- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Sacombank - Q - Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với anh Nguyễn Văn Q về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/DS-ST Ngày: 18-7-2025 “V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Ngọc Thạch;
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 41/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; địa chỉ: Số B, N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Ông Nguyễn Quang T – Phó Giám đốc chi nhánh T1 kiêm Trưởng phòng giao dịch T (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Phạm Dương Chí K – Chuyên viên khách hàng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố B, xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 06/02/2025 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là ông Dương Chí K trình bày:
Ngày 10/8/2022, anh Q có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (từ đây gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2188329 với hạn mức 50.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 33,2%/năm. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 88.980.000 đồng. Anh Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 66.869.102 đồng (thứ tự thanh toán theo quy định tại Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng anh Q vẫn không trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng. Ngày 15/12/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của anh Q, đã chuyển toàn bộ số tiền anh Q còn nợ lại Ngân hàng là 69.693.378 đồng sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 26/5/2025, anh Q còn nợ Ngân hàng 55.070.082 đồng tiền gốc, lãi quá hạn và phí là 14.623.296 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu anh Q có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 26/5/2025 là 69.693.378 đồng; yêu cầu tính lãi từ ngày 27/5/2025 cho đến khi tất nợ theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2188329 đã ký kết ngày 10/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng. Ngoài ra, Ngân hàng không yêu cầu gì khác.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn Q vắng mặt nên không có lời trình bày.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xử theo hướng:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với anh Q. Buộc anh Q có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng 55.070.082 đồng tiền gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
+ Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà D là Người đại diện theo pháp luật của Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho ông T đại diện. Ông T vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho ông K đại diện. Ông K vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Q là Bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với bà D, ông T, ông K, anh Q.
Về nội dung tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, ông K đại diện cho Ngân hàng yêu cầu anh Q trả lại cho Ngân hàng tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 26/5/2025 là 69.693.378 đồng; yêu cầu tính lãi từ ngày 27/5/2025 cho đến khi tất nợ theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2188329 đã ký kết ngày 10/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng. Xét yêu cầu của Ngân hàng thấy rằng:
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2188329 đã ký kết ngày 10/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng cung cấp có đủ căn cứ xác định anh Q có ký kết với Ngân hàng Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng trên là có thật. Anh Q đã được cấp Thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 33,2%/năm; đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 88.980.000 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 66.869.102 đồng, anh Q còn nợ lại 55.070.082 đồng tiền gốc là có thật. Căn cứ vào Bản Tóm tắt sao kê ngày 26/5/2025 của Ngân hàng cung cấp cũng đã có đủ căn cứ xác định tính đến ngày 26/5/2025 anh Q còn nợ Ngân hàng 14.623.296 đồng tiền lãi quá hạn và tiền phí là có thật.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Q đều vắng mặt nên không có lời trình bày, không có chứng cứ phản bác nên xem như không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự và phải chịu hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy Ngân hàng yêu cầu anh Q trả lại cho Ngân hàng 69.693.378 đồng tiền gốc, tiền lãi, tiền phí tính đến ngày 26/5/2025; tiền lãi quá hạn, tiền phí phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2188329 đã ký kết ngày 10/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng tính từ ngày 27/5/2025 cho đến khi tất nợ là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với những nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc anh Q phải chịu 3.485.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với anh Nguyễn Văn Q về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Buộc anh Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S 55.070.082 đồng tiền gốc, 14.623.296 đồng tiền lãi và tiền phí, tổng cộng là 69.693.378 đồng và tiền lãi quá hạn, tiền phí phát sinh theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2188329 đã ký kết ngày 10/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng tính từ ngày 27/5/2025 cho đến khi tất nợ.
2. Về án phí:
- Anh Nguyễn Văn Q phải chịu 3.485.000 (ba triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S 1.534.000 (một triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0003114 ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 do Dương Chí K nộp thay).
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Chung |