vanban.org

Bản án 06/2025/DS-ST — Tranh chấp đất đai

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần M đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc bà Nguyễn Thị Thúy P có nghĩa vụ trả nợ vay cho Công ty cổ phần M số tiền tính đến hết ngày 16-7-2025 là 822.793.125 (Tám trăm hai mươi hai triệu , bảy trăm chín mươi ba nghìn , một trăm hai mươi lăm ) đồng. Trong đó nợ gốc là 527.384.994 đồng (Năm trăm hai mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần M đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/DS-ST
Ngày: 16-7-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Bộ, bà Lê Thị Bích P.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Diệu - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2027, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân khu vực 7, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần M. Địa chỉ: Tầng 15, Tòa nhà Central Point, số 219 phố T, phường Y, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Huy M, chức vụ: Giám đốc Trung tâm Xử lý nợ (Theo Quyết định ủy quyền số 06/2024/UQ-TGĐ ngày 11/07/2024 của ông Hoàng Anh Tuấn - TGĐ Công ty CP MBN Tupiter).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Lê Anh T, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: Tầng 5, số 112 Phan Châu Trinh, phường H, thành phố Đà Nẵng.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy P, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T; địa chỉ trụ sở: số 89 Láng Hạ, phường L, thành phố Hà Nội; Do ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị, đại diện theo pháp luật.

- Công ty TNHH mua bán nợ G. Địa chỉ: Tầng 1-2 Tòa nhà PVL Linh Tây, số 5 Đường D1, phường L, thành phố Hồ Chí Minh; Do bà Nguyễn Thị Huyền T, chức vụ: Giám đốc, đại diện theo pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức L, ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó Giám đốc (Theo Quyết định ủy quyền số 01/2023/GUQ-GLX DT ngày 25/10/2023 của bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Giám đốc).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lê Đăng H, ông Trần Đình L, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ (Theo Quyết định ủy quyền số 32/2024/GUQ-GLXDT VPN ngày 18/01/2024 của ông Lê Đức Lâm - Phó Giám đốc); Địa chỉ: Tầng 4, số 112 Phan Châu Trinh, phường H, thành phố Đà Nẵng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn, ông Nguyễn Lê Anh T trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thúy P vay vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam T, theo hợp đồng tín dụng số: LN2110164516393 ngày 20/10/2021, với số tiền là 610.000.000 (Sáu trăm mười triệu) đồng. Thời hạn vay: 96 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay. Mục đích sử dụng vốn thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu MAZDA ALL NEW BT50 LUXURY, 19L AT, 4x2. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 6,8%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân (“Thời gian cố định”). Hết Thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của VPBank thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VND áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,6%/năm. Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả: Lãi suất áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên: Xe ô tô nhãn hiệu MAZDA ALL NEW BT50 LUXURY, 19L AT, 4x2, biển số: 92A-192.78, số khung: MP2TFR87JNT000105, số máy: RZ4EWG2689 thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Thúy P (theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 92 006120 được cấp bởi Phòng CSGT - Công An tỉnh Quảng Nam ngày 19/10/2021). Việc thế chấp được xác định theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN2110164516393 ngày 20/10/2021), đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định pháp luật để thu hồi toàn bộ khoản vay. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Theo Hợp đồng Mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER ngày 12/07/2024 và Phụ lục đính kèm giữa Công ty TNHH mua bán nợ G (Galaxy) với Công ty cổ phần M thì Galaxy đồng ý bán và Công ty cổ phần M đồng ý mua khoản nợ của khách hàng vay là bà Nguyễn Thị Thúy P, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh theo hợp đồng cho vay mà bà Nguyễn Thị Thúy P đã ký kết với VPBank.

Tính đến ngày 23/05/2025, bà Nguyễn Thị Thúy P còn nợ Công ty cổ phần M tổng số tiền 802.780.512 đồng cụ thể như sau: Nợ gốc: 527.384.994 đồng; Nợ lãi và chậm trả lãi: 275.395.518 đồng. Quá trình xử lý khoản vay, Công ty cổ phần M đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà Nguyễn Thị Thúy P thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho Công ty cổ phần M nhưng bà Nguyễn Thị Thúy P không thực hiện.

Vì vậy, Công ty cổ phần M khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu bà Nguyễn Thị Thúy P phải thanh toán Công ty cổ phần M tổng số tiền tính đến hết ngày 16-7-2025 là 822.793.125 đồng. Trong đó nợ gốc là 527.384.994 đồng; nợ lãi là 295.408.131 đồng. Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày Bà Nguyễn Thị Thúy P thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty cổ phần M. Lãi phát sinh phải trả cho Công ty cổ phần M cho đến khi thanh toán hết nợ. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà Bà Nguyễn Thị Thúy P không trả nợ đầy đủ cho Công ty cổ phần M thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty cổ phần M, cụ thể như sau: Xe ô tô nhãn hiệu MAZDA ALL NEW BT50 LUXURY, 19L AT, 4x2, biển số: 924-192.78, số khung: MP2TFR87JNT000105, số máy: RZ4EWG2689 thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Thúy P (theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 92 006120 được cấp bởi Phòng CSGT - Công An tỉnh Quảng Nam ngày 19/10/2021). Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của bà Nguyễn Thị Thúy P để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy P: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thúy P không hợp tác, không trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia tố tụng tại Tòa án. Dó đó, Tòa án thực hiện thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo thủ tục chung là đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng không trình bày ý kiến gì.

Công ty TNHH mua bán nợ G, do ông Trần Đình Luyến, đại diện theo ủy quyền lại trình bày: Công ty TNHH mua bán nợ G đã bán nợ toàn phần cho Công ty cổ phần M nên Công ty cổ phần M toàn quyền quyết định và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 292, 295, 299, 317, 318, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị Thúy P có nghĩa vụ trả nợ vay cho Công ty cổ phần M số tiền tính đến hết ngày 16-7-2025 là 822.793.125 đồng. Trong đó nợ gốc là 527.384.994 đồng; nợ lãi là 295.408.131 đồng. Nếu bà Nguyễn Thị Thúy P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự, xử lý tài sản đảm bảo là xe ô tô nhãn hiệu Mazda, All New BT50 Luxury, 1,9L, AT, 4x2; Biển số đăng ký: 92C-192-78, để thu hồi nợ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ và ý kiến của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thúy P ký hợp đồng vay tài sản với Ngân hàng TMCP Việt Nam T - Chi nhánh Quảng Nam. Vì vậy, Tòa án xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Tại thời điểm xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản, bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy P có địa chỉ tại thôn Phú Lai, xã Tam Phước, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy P và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Việt Nam T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Công ty TNHH mua bán nợ G, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy P với Ngân hàng TMCP Việt Nam T - Chi nhánh Quảng Nam ký kết hợp đồng vay tài sản số LN2110164516393 ngày 20/10/2022. Số tiền vay là 610.000.000 (Sáu trăm mười triệu) đồng, thời gian vay 96 tháng; mục đích sử dụng vốn vay là thanh toán tiền mua xe ô tô. Tài sản bảo đảm cho khoản vay: xe ô tô nhãn hiệu Mazda, All New BT50 Luxury, 1,9L,AT, 4x2; Biển số đăng ký: 92C-192-78.

Ngân hàng TMCP Việt Nam T - Chi nhánh Quảng Nam với bà Nguyễn Thị Thúy P đã ký kết hợp đồng vay tài sản số LN2110164516393 ngày 20/10/2022 là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định pháp luật, hợp đồng vay tài sản có hiệu lực và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên kể từ ngày ký giấy đề nghị giải ngân ngày 21/10/2022 và bên vay bà Nguyễn Thị Thúy P đã nhận toàn bộ số tiền gốc 610.000.000 (Sáu trăm mười triệu) đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng vay vốn, đến hạn trả nợ gốc và lãi nhưng bà P không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận tại hợp đồng vay tài sản. Hiện nay, Ngân hàng TMCP Việt Nam T đã bán toàn bộ khoản nợ của bà P cho Công ty TNHH mua bán nợ G và Công ty TNHH mua bán nợ G đã bán lại cho Công ty cổ phần M.

Vì vậy, Công ty cổ phần M khởi kiện, yêu cầu bà Nguyễn Thị Thúy P thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho Công ty cổ phần M là đúng quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ trả nợ: Công ty cổ phần M đã mua lại khoản nợ mà Nguyễn Thị Thúy P đã vay của Ngân hàng TMCP Việt Nam T nên Công ty cổ phần M kế thừa đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP Việt Nam T theo các hợp đồng đã ký kết giữa bà Nguyễn Thị Thúy P với Ngân hàng TMCP Việt Nam T. Do vậy, Công ty cổ phần M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thúy P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M toàn bộ số tiền gốc và lãi phát sinh tính đến hết ngày 16-7-2025 là 822.793.125 đồng; nợ gốc là 527.384.994 đồng; nợ lãi là 295.408.131 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét hợp đồng thế chấp: Tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Mazda, All New BT50 Luxury, 1,9L,AT, 4x2; Biển số đăng ký: 92C-192-78 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà P. Xét thấy, các chủ thể ký kết các hợp đồng, các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hợp đồng thế chấp tài sản là xe ô tô được ký kết giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên có hiệu lực thi hành, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Do vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Công ty cổ phần M có yêu cầu kê biên, phát mại các tài sản khác của bà Nguyễn Thị Thúy P để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trong trường hợp tài sản bảo đảm không đủ trả nợ. Tuy nhiên, trong hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp tài sản không có thỏa thuận này nên không có cơ sở xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn bà P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 292, 295, 299, 317, 318, 320, 323, 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần M đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc bà Nguyễn Thị Thúy P có nghĩa vụ trả nợ vay cho Công ty cổ phần M số tiền tính đến hết ngày 16-7-2025 là 822.793.125 (Tám trăm hai mươi hai triệu , bảy trăm chín mươi ba nghìn , một trăm hai mươi lăm ) đồng. Trong đó nợ gốc là 527.384.994 đồng (Năm trăm hai mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi tư nghìn, chín trăm chín tư) đồng; nợ lãi là 295.408.131 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu, bốn trăm lẽ tám nghìn, một trăm ba mốt) đồng.

Kể từ ngày 17-7-2025, bà Nguyễn Thị Thúy P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị Thúy P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ gồm: Một xe ô tô nhãn hiệu Mazda, All New BT50 Luxury, 1,9L, AT, 4x2; Biển số đăng ký: 92C-192-78 (Bà Nguyễn Thị Thúy P đang quản lý, sử dụng).

Về án phí: Nguyễn Thị Thúy P phải chịu 36.683.793 (Ba mươi sáu triệu, sáu trăm tám mươi ba nghìn, bảy trăm chín mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Công ty cổ phần M được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.900.000 (Mười sáu triệu, chín trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0018072 ngày 02-01-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 7-Đà Nẵng).

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16-7-2025); bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ