- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Phước cùng đồng phạm - Huỷ hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu P (Tý OK), Thôi Thái T1 (Tý B); Nguyễn Văn N1, phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HSST Ngày: 31- 01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hải.
2. Ông Tạ Quang Đức.
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thanh Thảo, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa: Bà Trần Thụy Quốc Vang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2023/TLST-HS, ngày 25 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Nguyễn Hữu P (tên gọi khác: Tý OK), sinh ngày 12/02/1987 tại Cần Thơ. Đăng ký thường trú: Số 102/PT, tổ D, khu vực Bình Phó B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Ẩ, sinh năm 1948 (Chết) và bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1958; Vợ: Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1987 (đã ly hôn), có 02 con; tiền sự, tiền án: chưa. Bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/10/2023. Có mặt.
2. Bị cáo Thôi Thái T1 (tên gọi khác: Tý B), sinh ngày 20/02/2000 tại Cần Thơ. Đăng ký thường trú: Số F, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Thôi Văn T2, sinh năm 1980 và bà Lê Hồng N, sinh năm 1979; tiền án: chưa; tiền sự 03: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 45/QĐ-XPHC ngày 06/10/2022 của Công an phường A, quận N, thành phố Cần Thơ xử phạt Thôi Thái Toàn 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chưa chấp hành; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 45/QĐ-XPHC ngày 23/11/2022 của Công an phường A, quận N, thành phố Cần Thơ xử phạt Thôi Thái Toàn 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chưa chấp hành; Tại Quyết định áp dụng biên pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 64/QĐ-XPTT ngày 24/12/2022 của UBND phường A, quận N, thành phố Cần Thơ đối với Thôi T trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 24/12/2022 do đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 27/3/2023. Bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/5/2023. Có mặt.
3. Bị cáo Nguyễn Văn N1, sinh ngày 14/9/2004 tại Cần Thơ. Đăng ký thường trú: Số C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Giới tính: Nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1974 và bà Trần Bé H1, sinh năm 1979; tiền sự, tiền án: chưa. Bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/5/2023. Có mặt.
* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 01/01/1977. Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hồ Thanh T3, sinh năm 02/10/1976. Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2. Ông Huỳnh Ngọc Q, sinh ngày 09/11/2005. Địa chỉ: 5, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
3. Ông Hồ Huỳnh N2, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
4. Ông Hồ Việt A, sinh ngày 26/10/2002. Địa chỉ: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Thị Anh T4, sinh ngày 14/4/2004. Địa chỉ: Tổ E, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
6. Ông Nguyễn Văn P1, sinh ngày 11/8/1974. Địa chỉ: số C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
7. Ông Nguyễn Quốc P2, sinh năm 1980. Địa chỉ: B, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
8. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1987. Địa chỉ: 1780/NL, khu vực Bình Phó A, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
9. Bà Ngô Thị Quỳnh A1, sinh ngày 21/12/1993. Địa chỉ: 103/PT, tổ D, khu vực Bình Phó B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
10. Bà Hoàng Bích P3, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
11. Bà Mai Phương T5, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
1. Bà Lâm Thị Tuyết T6, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số B, khu V, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
2. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa Nguyễn Hữu P, Thôi Thái T1, Nguyễn Văn N1 thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Hữu P (Tý OK) và Thôi Thái T1 (Tý B) có mối quan hệ quen biết từ trước. Vào ngày 08/5/2023, P sử dụng số điện thoại 0939102028 điện vào số điện thoại 0344375334 của T1 để nói về việc bạn của P có mâu thuẫn và đang cần tìm người thuê tạt sơn, T1 nhận lời tạt sơn. P hỏi giá tiền thuê tạt sơn thì T1 yêu cầu trả 6.000.000 đồng, khi thực hiện xong và nhận tiền sẽ cho lại P 500.000 đồng, P đồng ý. P nói sẽ cho bạn của P hay rồi sẽ cho T1 biết. T1 gọi điện vào số điện thoại 0778186069 của Nguyễn Văn N1, cho biết có người thuê tạt sơn với giá 4.000.000 đồng, khi nào thực hiện xong sẽ chia đôi mỗi người 2.000.000 đồng, thời gian và địa điểm người thuê sẽ cho biết sau, N1 đồng ý.
Đến sáng ngày 11/5/2023, T1 thấy tin nhắn của P trên ứng dụng mạng xã hội Zalo qua tên “Tý Ok” với nội dung: “Khi thức dậy thì liên lạc lại với Nguyễn Hữu P”. T1 gọi điện lại cho P thì P nói đang có việc, sẽ gọi lại cho T1. Đến khoảng 13 giờ, ngày 11/5/2023 P gọi điện hẹn T1 ra quán cà phê Góc Phố đối diện Bệnh viện Nhi đồng thành phố C để bàn bạc việc tạt sơn, T1 mượn xe của mô tô nhãn hiệu Winner biển số 84K1-261.67 của N1 để đến quán cà phê Góc P4 để gặp P. Tại đây, P đồng ý thuê T1 đi tạt sơn với giá 6.000.000 đồng và yêu cầu T1 tạt sơn vào một người phụ nữ là chủ Shop quần áo tên O tại chợ M1, huyện P và đánh người này một vài cái trước khi rời đi, P sẽ mua sẵn sơn và xăng cho T1, khi nào thực hiện xong thì P sẽ trả tiền thì T1 đồng ý, sau khi bàn bạc xong P chạy xe máy đi mua sơn và xăng.
Trong thời gian P đi mua sơn và xăng, T1 điện thoại cho N1 qua số 0778186069, kêu Nhả đến quán cà phê Góc P4 để đi tạt sơn. Do N1 không có xe nên T1 điện thoại nhờ Huỳnh Ngọc Q chở N1 đến quán cà phê Góc P4, T1 cho Q 30.000 đồng. Khoảng 15 phút sau, P quay lại đi vào quán cà phê, P treo bọc nilon chứa xăng và sơn trên xe 84K1-261.67 của T1, lúc này N1 gặp và biết P là người thuê đi tạt sơn. T1 kêu N1 đi ra xelấy bọc nước sơn và xăng đem vào quán để pha trộn lại. Nhả đem bọc nilon nước sơn và xăng vào trong quán, bên trong bọc có 02 hộp sơn màu đỏ, 01 chai nhựa có chứa xăng và 01 ca nhựa màu trắng có nắp đậy, N1 lấy 01 hộp sơn ra mở nắp đổ nước sơn và xăng vào trong ca nhựa, dùng ống hút nhựa khuấy lên cho nước sơn hòa tan với xăng tạo thành hỗn hợp, xong N1 cho ca nhựa chứa hỗn hợp sơn, xăng vào trong bọc nilon màu đen, còn 01 hộp sơn chưa sử dụng, 01 hộp sơn đã sử dụng xong, dụng cụ khác N1 đã vứt vào thùng rác bên đường.
Sau khi đã bàn bạc, chuẩn bị xong nước sơn thì P nói với T1 và N1 để P đi đến Shop O quan sát, nhận dạng người cần tạt sơn, còn N1 và T1 ở lại quán cà phê đợi P. Khoảng 15 phút sau, P quay lại nói cho N1, T1 biết trong Shop Oanh chỉ có một người phụ nữ có đặc điểm là tóc màu nâu, khoảng hơn 30 tuổi, nói xong thì P lên xe máy rời khỏi quán.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T1 kêu N1 điều khiển xe mô tô biển số 84K1-261.67 chở T1 cầm theo sơn đã pha đến S. Gần đến S, N1 kêu T1 dừng xe lại để N1 lấy khẩu trang y tế che lại biển số xe do xe mượn của Việt A sợ bị phát hiện, bị bắt. T1 nói với N1 để T1 tạt sơn, nếu bị bắt thì T1 chịu, N1 trả lời N1 vừa bị xử lý bên C nên để Nhả tạt, N1 chịu trách nhiệm. T1 đồng ý và điều khiển xe chở N1 cầm theo sơn đã pha sẵn chạy ngang Shop Oanh để quan sát, xác định đúng đặc điểm người phụ nữ được P mô tả, T1 quay đầu xe hướng về đường lộ Vòng Cung rồi đợi N1, N1 giả vờ vào Shop mua đôi vớ, trong lúc bà O không chú ý, N1 tạt sơn đã pha sẵn vào người bà O rồi bỏ chạy ra xe, T1 chở N1 chạy thoát khỏi hiện trường. Bà O báo sự việc đến Công an xã M.
Đến tối ngày 11/5/2023, T1 gặp P để nhận tiền thuê tạt sơn, P đưa trước cho T1 số tiền 3.000.000 đồng, còn lại 2.500.000 đồng hẹn sáng hôm sau sẽ chuyển khoản cho T1. T1 đưa cho N1 số tiền 1.500.000 đồng, còn 500.000 đồng sẽ trả sau khi P chuyển đủ tiền.
Đến sáng ngày 12/5/2023, P đến quán cà phê dưới dốc cầu gần chợ Phó Thọ thuộc phường L, quận B gặp Nguyễn Văn H2 nhờ chuyển tiền cho T1, H2 dùng ứng dụng trên điện thoại di động chuyển qua tài khoản 9344375334 của T1 mở tại ngân hàng V1 số tiền 1.000.000 đồng. Khi nhờ H2 chuyển tiền thì P nói là cần chuyển tiền cho T1 nên H2 đồng ý, rồi P đưa lại 1.000.000 đồng tiền mặt cho H2. Sau đó, P tiếp tục đến quán cà phê không có biển hiệu tại chợ P5 T7 gặp Ngô Thị Quỳnh A1 là chủ quán cà phê, P nhờ Quỳnh A1 chuyển tiền vào số tài khoản 9344375334 của T1 với số tiền 1.500.000 đồng thì Quỳnh A1 đồng ý, rồi P đưa lại cho Quỳnh A1 tiền mặt là 1.500.000 đồng. Do Quỳnh A1 không có tài khoản chuyển tiền trên điện thoại di động nên Quỳnh A1 nhờ chị Hoàng Bích P3 chuyển giúp nhưng chị P3 không có tài khoản, không có tiền; em ruột cùng mẹ khác cha với chị P3 là chị Mai Phương T5 đang đứng cạnh chị P3 nói có tiền và chuyển giúp tiền theo cung cấp số tài khoản của T1 co chị Quỳnh A1 cung cấp, chuyển tiền xong, chị T5 nhận tiền mặt chị Quỳnh A1 đưa là 1.500.000 đồng. Sau khi T1 nhận được số tiền 2.500.000 đồng thì T1 đã tiêu xài hết, chưa đưa số tiền 500.000 đồng còn lại cho N1 như đã thỏa thuận.
Đến ngày 13/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P phát hiện Nguyễn Văn N1 và Thôi Thái T1 có đặc điểm như hình ảnh camera thu được tại Shop Oanh nên mời về làm việc. Quá trình làm việc, N1 và T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh tạm giam bị can đối với Nguyễn Văn N1, Thôi Thái T1, quá trình điều tra đã tiến hành nhận dạng, ghi lời khai những người liên quan, hỏi cung bị can đủ cơ sở xác định Nguyễn Hữu P là người đã thuê Thôi Thái T1, Nguyễn Văn N1 tạt sơn vào người bà O và hủy hoại tài sản vào ngày 11/5/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P đã ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Hữu P nhưng P đã bỏ trốn. Đến ngày 26/10/2023 Nguyễn Hữu P đến Công an phường L, quận B, thành phố Cần Thơ đầu thú. Quá trình điều tra, P đã thừa nhận là người đứng ra thuê Thôi Thái T1 tạt nước sơn vào người bà Nguyễn Thị Kim O do Nguyễn Hoàng V có mâu thuẫn với Hồ Thanh T3 (chồng của Nguyễn Thị Kim O) nên đã nhờ Huỳnh Tấn D liên hệ với Nguyễn Hữu P (T) thuê P tạt nước sơn vào Shop bán quần áo của Nguyễn Thị Kim O, Huỳnh Tấn D gọi điện Nguyễn Hữu P (chưa xác định được số điện thoại) hỏi P có nhận kèo tạt nước sơn không thì Nguyễn Hữu P trả lời để hỏi lại rồi cho D hay, do có mối quan hệ quen biết nên Nguyễn Hữu P sử dụng số điện thoại 0939102028 gọi cho Thôi Thái T1 qua số 0344375334 để hỏi Thôi T có nhận tạt kèo tạt nước sơn không thì T1 nói có nhận và ra giá tạt sơn là 6.000.000 đồng, khi thực hiện xong nhận được tiền thì Thôi Thái Toàn sẽ cho lại P 500.000 đồng tiền giới thiệu, Nguyễn Hữu P nói để hỏi lại rồi cho T1 hay sau. P gọi điện lại cho Huỳnh Tấn D nói là nhận tạt nước sơn và ra giá 10.000.000 đồng thì D nói để hỏi lại Nguyễn Hoàng V, sau đó D gọi lại cho P nói V đồng ý tạt nước sơn với giá 10.000.000 đồng và mô tả địa điểm cần tạt sơn là S bán quần áo O ở chợ M1, P liên hệ với T1 đồng ý với giá tạt sơn là 6.000.000 đồng. Vào ngày 11/5/2023, sau khi T1 và N1 tạt sơn vào người bà O và hàng hóa trong cửa hàng thì T1 gọi điện cho P, P liên lạc thông báo cho D đã thực hiện xong việc tạt sơn và cả hai hẹn trả tiền vào ngày hôm sau. Ngày 12/5/2023 D gặp P trả số tiền công tạt sơn là 10.000.000 đồng và D cho P thêm 1.000.000 đồng. Số tiền này P đã trả công cho T1 hết 5.500.000 đồng, còn 5.500.000 đồng P đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: tổng giá trị tài sản bị hủy hoại là 9.425.000 đồng (BL số 81-82).
Căn cứ vào kết luận giám định số 164/KL-KTHS ngày 26/5/2023 của Phòng K, Công an thành phố C kết luận nước sơn còn lại trong ca nhựa thu tại hiện trường “có chứa thành phần xăng dầu” (BL số 66).
Đối với Huỳnh Ngọc Q do được T1 nhờ chở N1 đến quán C, không biết việc T1 và N1 đi tạt sơn, lời khai của Q phù hợp với lời khai của T1 và N1 nên không đủ căn cứ xử lý Q về vai trò đồng phạm với T1 và N1 trong vụ án.
Đối với Nguyễn Văn H2, Ngô Thị Quỳnh A1, Hoàng Bích P3 và Mai Phương T5 là người đã giúp P chuyển tiền cho T1. Qua điều tra xác định những người này được P nhờ chuyển tiền, không biết rõ mục đích P chuyển tiền cho T1 là gì nên không đủ căn cứ xử lý về vai trò đồng phạm với N1, T1 trong vụ án.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Winner biển kiểm soát 84K1-261.67 do Hồ Huỳnh N2 đăng ký chủ sở hữu. Ông N2 giao xe lại cho con ruột là Hồ Việt A sử dụng làm phương tiện đi học tại Trường Cao đẳng N4. Do Việt A có bà con bên nội, gọi N1 là cậu, N1 có hỏi mượn xe của Việt A từ ngày 09/5/2023, nói đi công việc nên Việt A đồng ý. Việt A không biết việc N1 và T1 sử dụng xe để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Lời khai của Việt A và N1 phù hợp với nhau, ông N2 yêu cầu được nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Winner màu đỏ, biển kiểm soát 84K1-261.67.
Đối với Huỳnh Tấn D và Nguyễn Hoàng V không thừa nhận thuê Nguyễn Hữu P tạt nước sơn vào Shop bán quần áo O, qua tiến hành đối chất và các chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được đến nay chưa đủ cơ sở chứng minh V và D có vai trò đồng phạm trong cùng vụ án, nên chưa đủ căn cứ để xử lý, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh xử lý khi có đủ căn cứ.
Căn cứ vào kết luận giám định số 164/KL-KTHS ngày 26/5/2023 của Phòng K, Công an thành phố C kết luận nước sơn còn lại trong ca nhựa thu tại hiện trường “có chứa thành phần xăng dầu”. Đ1 TCVN 5507:2002 (STT 159-162); Mục B, I, 2 của Thông tư liên ngành 01/TTLN ngày 07/01/1995; Công văn số 70/TANDTC-PC ngày 24/3/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc “xác định chất nguy hiểm về cháy, nổ” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 3 Luật phòng cháy, chữa cháy năm 2013 thì các bị can Nguyễn Hữu P, Thôi Thái T1 (BL 232), Nguyễn Văn N1 (BL 246) ý thức được và đã thực hiện hành vi dùng xăng pha vào sơn để tạt vào người và hủy hoại tài sản của bà O thỏa quy định tình tiết định khung “dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ” theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra xác định, giữa các bị can Nguyễn Hữu P, Thôi Thái T1, Nguyễn Văn N1 và bị hại Nguyễn Thị Kim O không có mâu thuẫn, Nguyễn Hữu P là người có vai trò là người được thuê, chủ mưu, tìm và thuê lại Thôi T, cung cấp sơn, xăng, trả tiền thuê T1 và N1 tạt sơn vào người và hủy hoại tài sản của bà O vào ngày 11/5/2023, hưởng lợi từ người khác 5.500.0000 đồng trong đó từ T1 là 500.000 đồng; T1 có vai trò giúp sức tích cực cho P, rủ rê N1, chở N1 đi tạt sơn và chở N1 tẩu thoát, hưởng lợi 4.000.000 đồng; N1 có vai trò là người thực hành tích cực pha sơn, xăng, trực tiếp tạt sơn vào bà O và tài sản của bà O, hưởng lợi 1.500.000 đồng. Tiền thu lợi bất chính của P, T1 và N1 đã tiêu xài hết, chưa thu hồi được. Lời khai của các bị can phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P thu thập được.
Về tinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Hữu P “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “đầu thú”; Thôi Thái T1 “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, gia đình bị can đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; Nguyễn Văn N1 “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; gia đình bị can đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; ông nội của bị can Nguyễn Văn N1 là ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1946 được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất (BL 345).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết khác: Nguyễn Hữu P tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0003307/QĐ-XPHC ngày 20/5/2013 bị Phòng PC45, Công an thành phố C xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng có mang theo hung khí thô sơ, mã tấu, típ sắt”, chấp hành xong ngày 22/3/2013 và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0007440/QĐ-XPHC ngày 01/4/2021 của Công an phường L, quận B, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 08/4/2021; đối với Nguyễn Văn N1 tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0025007 ngày 28/5/2023 của Công an quận C, thành phố Cần Thơ xử phạt Nguyễn Văn N1 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn thại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” xảy ra ngày 28/4/2023. Chưa chấp hành.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- Thu giữ của Nguyễn Văn N1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Winner màu đỏ, biển kiểm soát 84K1-261.67; 01 (một) đôi dép quai ngang có dòng chữ HILFIGER, 01 (một) nón bảo hiểm loại thể thao có dính nước sơn; 01 (một) quần short màu xanh rêu có dính nước sơn; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 gắn sim số 0778186069 liên quan đến thực hiện hành vi phạm tội;
- Thu giữ của Thôi Thái T1: 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc caro xanh có dính nước sơn, 01 (một) quần jean dài màu đen, 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, loại thể thao, có dòng chữ POC POWER OF CREATION; 01 (một) dép quai ngang màu đen, 01 (một) điện thoại di động OPPO A15 gắn sim số 03443753334 liên quan đến thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) điện thoại di động Iphone 5s không có gắn sim số, không liên quan đến thực hiện hành vi phạm tội;
- Thu giữ qua khám nghiệm hiện trường: 01 (một) bọc nilon màu đen, bên trong có chứa 01 (một) ca nhựa đựng nước sơn màu hồng;
- 01 (một) đĩa chứa dữ liệu ghi hình diễn biến vụ hủy hoại tài sản ngày 11/5/2023;
- Thu giữ của bà Nguyễn Thị Kim O tài sản bị thiệt hại, dính nước sơn gồm có: 10 (một) cái quần đùi (Hà Nội); 17 (mười bảy) cái quần kaki sọc; 08 (tám) quần đùi thể thao; 09 (chín) quần đùi kate hiệu cây dù; 04 (bốn) cái quần đùi sọc thun; 17 (mười bảy) nón kết vải kaki; 03 (ba) nón “ông địa”; 15 (mười lăm) cái nón kết vải dù; 14 (mười bốn) cái nón bo nam vải kaki; 07 (bảy) nón kết kaki nam; 02 (hai) váy chống nắng của cơ sở H3; 02 (hai) váy chống nắng của xưởng may H4; 02 (hai) váy chống nắng loại vải thường không nhãn hiệu; 03 (ba) bộ quần áo pijama; 03 (ba) áo khoác vải; 01 (một) áo sơ mi tay ngắn; 04 (bốn) áo thun nam tay ngắn; 01 (một) quần cotton nữ hiệu Quang N3 (made in Vietnam); 01 (một) quần cotton nữ hiệu WINMY Bích Ngọc; 03 (ba) đôi dép lào; 01 (một) đôi dép tổ ong; 01 (một) đôi dép quai ngang nam; 04 (bốn) quần đùi nam thun đen; 01 (một) áo khoác nam Adidas (1X-Đại) New fashion made in Vietnam; 01 (một) áo khoác nam POLO (RALPH LAUREN) loại vải dù; 01 (một) áo khoác nam Thúy Vy M in Vietnam; 02 (hai) quần, Á; 03 (ba) bộ đồ thun và 01 (một) áo thun tay ngắn.
Yêu cầu về trách nhiệm dân sự, hình sự của bị hại: đối với vết thương trên vùng mặt do sơn gây ra, bà O không đến bệnh viện để khám, điều trị, từ chối giám định và không yêu cầu xử lý N1 và T1 về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Phía gia đình của của Thôi Thái T1 đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim O số tiền 29.000.000 đồng, gia đình Nguyễn Văn N1 đã bồi thường cho Nguyễn Thị Kim O số tiền 6.000.000 đồng. Bà O đã nhận tiền và có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho N1 và T1. Đối với Nguyễn Hữu P, bị hại Nguyễn Thị Kim O chưa có yêu cầu bồi thường. Đối với quần, áo, nón, dép bị hủy hoại, do bà O đã nhận tiền bồi thường nên không có yêu cầu nhận lại tài sản.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSPĐ ngày 25/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố Nguyễn Hữu P, Thôi Thái T1, Nguyễn Văn N1 cùng về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố đối với các bị cáo đồng thời phân tích tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của từng bị cáo từ đó đề nghị mức hình phạt cụ thể: Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 178; khoản 2, 3 Điều 17; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt: bị cáo Nguyễn Hữu P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Thôi Thái T1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm; bị cáo Nguyễn Văn N1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Buộc các bị cáo nộp tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ nhà nước, miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: đề nghị tịch thu tiêu hủy, sung công, trả lại vật chứng đã chuyển sang Chi Cục Thi hành án dân sự huyện P.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo xin được hưởng mức nhẹ nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời gian theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà các bị cáo P, T1, N1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quá trình điều tra, các bị cáo thống nhất tội danh, điểm, khoản, Điều luật của Cáo trạng truy tố. Các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xử xem xét được mức án nhẹ nhất của khung hình phạt.
- Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo trước đó đã có gặp gỡ, bàn bạc thống nhất với nhau về việc dùng sơn và xăng trộn lẫn vào nhau đi đến shop của bà Nguyễn Thị Kim O tại chợ M1 để tạt sơn và đánh dằn mặt. Tại phiên tòa bị cáo P cho rằng chỉ thuê tạt sơn chứ không có kêu đánh dằn mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bị cáo P, T1 trao đổi về việc đánh dằn mặt bà O không có người thứ ba chứng kiến nhưng cũng không đủ căn cứ để cho rằng nội dung đánh dằn mặt là không có trao đổi trước khi tạt sơn. Thực tế bà O cũng không bị đánh.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Tổng giá trị tài sản bị hủy hoại là 9.425.000 đồng. Tại kết luận giám định số 164/KL-KTHS ngày 26/5/2023 của Phòng K, Công an thành phố C kết luận nước sơn còn lại trong ca nhựa thu tại hiện trường “có chứa thành phần xăng dầu”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố các bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo a, điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan.
Hội đồng xét xử nhận thấy các tài liệu, chứng cứ thu thập có tại hồ sơ phù hợp với nhau, thể hiện tính nhất quán đủ kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo.
Bị cáo P có nhân thân xấu, có vai trò chủ mưu, cầm đầu, nhận tạt sơn và thuê lại bị cáo N1, bị cáo T1 để tạt sơn Shop Oanh tại chợ M1; bị cáo T1 rất tích cực giúp sức cho bị cáo P đồng thời rủ rê, lôi kéo chở bị cáo N1 đi tạt sơn; bị cáo N1, được thuê thực hiện hành vi phạm tội, biết rõ việc làm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, tích cực pha xăng vào sơn, tạt sơn vào người và tài sản của bị hại.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ra đầu thú; bị cáo T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường phần lớn thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo N1 có ông nội là người có công với cách mạng, gia đình tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, khi nghị án Hội đồng xét xử đã cân nhắc xem xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt cho tương xứng phù hợp với mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Về hình phạt bổ sung: Gia đình các bị cáo đã khắc phục xong thiệt hại, bồi thường thay cho các bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Tuy nhiên do các bị cáo có hưởng lợi từ việc phạm tội cần buộc các bị cáo phải nộp tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ nhà nước.
Vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Tịch thu sung sung công: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của bị cáo N1; 01 điện thoại di động OPPO A15 của bị cáo T1 sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép quai ngang có dòng chữ HILFIGER, 01 nón bảo hiểm loại thể thao có dính nước sơn; 01 quần short màu xanh rêu có dính nước sơn của bị cáo N1; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro xanh có dính nước sơn, 01 quần jean dài màu đen, 01 nón bảo hiểm màu đen, loại thể thao, có dòng chữ POC POWER OF CREATION; 01 đôi dép quai ngang màu đen của bị cáo T1; 01 bọc nilon màu đen, bên trong có chứa 01 ca nhựa đựng nước sơn màu hồng; 10 cái quần đùi (Hà Nội); 17 cái quần kaki sọc; 08 quần đùi thể thao; 09 quần đùi kate hiệu cây dù; 04 cái quần đùi sọc thun; 17 nón kết vải kaki; 03 nón “ông địa”; 15 cái nón kết vải dù; 14 cái nón bo nam vải kaki; 07 nón kết kaki nam; 02 váy chống nắng của cơ sở H3; 02 váy chống nắng của xưởng may H4; 02 váy chống nắng loại vải thường không nhãn hiệu; 03 bộ quần áo pijama; 03 áo khoác vải; 01 áo sơ mi tay ngắn; 04 áo thun nam tay ngắn; 01 quần cotton nữ hiệu Quang N3 (made in Vietnam); 01 quần cotton nữ hiệu WINMY Bích Ngọc; 03 đôi dép lào; 01 đôi dép tổ ong; 01 đôi dép quai ngang nam; 04 quần đùi nam thun đen; 01 áo khoác nam Adidas (1X-Đại) New fashion made in Vietnam; 01 áo khoác nam POLO (RALPH LAUREN) loại vải dù; 01 áo khoác nam Thúy Vy Made in Vietnam; 02 quần, áo thể thao nam; 03 bộ đồ thun và 01 áo thun tay ngắn của Nguyễn Thị Kim O không còn giá trị sử dụng và người bị hại cũng không yêu cầu nhận lại; 02 sim điện thoại số 0778186069, 03443753334.
- Trả lại cho ông Hồ Huỳnh N2 01 xe mô tô nhãn hiệu Winner màu đỏ, 84K1-261.67; bị cáo T1 01 điện thoại di động Iphone 5s.
- Lưu hồ sơ: 01 đĩa chứa dữ liệu ghi hình diễn biến vụ hủy hoại tài sản ngày 11/5/2023;
Bị hại không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu P (Tý OK), Thôi Thái T1 (Tý B); Nguyễn Văn N1, phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
2. Áp dụng điểm a, điểm d khoản 2 Điều 178; khoản 2, 3 Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
3. Xử phạt: - Bị cáo Nguyễn Hữu P 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2023.
- Bị cáo Thôi Thái T1 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2023.
- Bị cáo Nguyễn Văn N1 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu P, Thôi Thái T1, Nguyễn Văn N1 nộp tiền thu lợi bất chính để sung vào công quỹ Nhà nước, cụ thể: Phước 5.500.000 đồng; T1 4.000.000 đồng; Nhả 1.500.000 đồng.
4. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung sung công: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của bị cáo Nguyễn Văn N1; 01 điện thoại di động OPPO A15 của bị cáo Thôi Thái T1.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép quai ngang có dòng chữ HILFIGER, 01 nón bảo hiểm loại thể thao có dính nước sơn; 01 quần short màu xanh rêu có dính nước sơn của bị cáo N1; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro xanh có dính nước sơn, 01 quần jean dài màu đen, 01 nón bảo hiểm màu đen, loại thể thao, có dòng chữ POC POWER OF CREATION; 01 đôi dép quai ngang màu đen của bị cáo T1; 01 bọc nilon màu đen, bên trong có chứa 01 ca nhựa đựng nước sơn màu hồng; 10 cái quần đùi (Hà Nội); 17 cái quần kaki sọc; 08 quần đùi thể thao; 09 quần đùi kate hiệu cây dù; 04 cái quần đùi sọc thun; 17 nón kết vải kaki; 03 nón “ông địa”; 15 cái nón kết vải dù; 14 cái nón bo nam vải kaki; 07 nón kết kaki nam; 02 váy chống nắng của cơ sở H3; 02 váy chống nắng của xưởng may H4; 02 váy chống nắng loại vải thường không nhãn hiệu; 03 bộ quần áo pijama; 03 áo khoác vải; 01 áo sơ mi tay ngắn; 04 áo thun nam tay ngắn; 01 quần cotton nữ hiệu Quang N3 (made in Vietnam); 01 quần cotton nữ hiệu WINMY Bích Ngọc; 03 đôi dép lào; 01 đôi dép tổ ong; 01 đôi dép quai ngang nam; 04 quần đùi nam thun đen; 01 áo khoác nam Adidas (1X-Đại) New fashion made in Vietnam; 01 áo khoác nam POLO (RALPH LAUREN) loại vải dù; 01 áo khoác nam Thúy Vy Made in Vietnam; 02 quần, áo thể thao nam; 03 bộ đồ thun và 01 áo thun tay ngắn của Nguyễn Thị Kim O; 02 sim điện thoại số 0778186069, 03443753334.
- Trả lại cho ông Hồ Huỳnh N2 01 xe mô tô nhãn hiệu Winner màu đỏ, biển kiểm soát 84K1-261.67; 01 điện thoại di động Iphone 5s cho bị cáo T1.
- Lưu hồ sơ: 01 đĩa chứa dữ liệu ghi hình diễn biến vụ hủy hoại tài sản ngày 11/5/2023;
5. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
6. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
7. Các bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9. Thời hiệu thi hành án được qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - VKSND huyện Phong Điền; - Chi cục THA.DS huyện Phong Điền; - TANDTP Cần Thơ; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CATPCT; - Công an huyện Phong Điền; - Nhà tạm giữ - CA huyện Phong Điền; - Sở tư pháp; - UBND phường Long Tuyền, quận Bình Thủy; - UBND phường An Bình, quận Ninh Kiều; - Lưu hồ sơ. Hội thẩm nhân dân Nguyễn Thanh Hải Tạ Quang Đức | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Thịnh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Thịnh |