vanban.org

Bản án 06/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Lan H được ly hôn anh Tạ Quang H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung: Cháu Tạ Lê Thiên A sinh ngày 23/9/2018. Giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thiên A đến khi cháu đủ 18 tuổi. anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Lan H- Tạ Quang H ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Lan H được ly hôn anh Tạ Quang H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 01- 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Anh và bà Ngô Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đào Hải Toàn- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXX-ST ngày 11 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Lan H- sinh năm 1994.

Địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Tạ Quang H - sinh năm 1990.

Người đại diện theo pháp luật của anh H: Ông Tạ Đình Q sinh 1967 và bà Hứa Thị B sinh năm 1969

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa, chị Hương, anh H, ông Q và bà B đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo Đơn khởi kiện ngày 15 tháng 9 năm 2023 và các văn bản tố tụng, nguyên đơn là chị Lê Thị Lan H trình bày: Chị và anh Tạ Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã T (Nay là thị trấn N), huyện T, tỉnh Thanh Hãa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 56/2017 ngày 07 tháng 11 năm 2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 3/2018 thì anh H bị tai nạn giao thông, thương tích ở đầu, ảnh hưởng não, không còn sức khỏe và khả năng lao động để kiếm tiền nuôi gia đình, đầu óc không còn tỉnh táo, mất kiểm soát về hành động, mọi sinh hoạt cá nhân đều phải có người hỗ trợ. Do chị phải đi làm để lấy tiền nuôi con, nên việc chăm sóc anh H chủ yếu do bố mẹ chồng là ông Tạ Đình Q và bà Hứa Thị B chăm sóc. Hiện nay, anh H đang được hưởng trợ cấp xã hội 720.000đ/tháng. Tình cảm vợ chồng dạn nứt, không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 đến nay, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tạ Quang H.

Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung là cháu Tạ Lê Thiên A sinh ngày 23/9/2018, cháu ở với chị H. Cháu đang học trường Mầm non thị trấn N, cháu khoẻ mạnh, phát triển tốt, được đi học đầy đủ, không bị đánh đập bạo hành. Chị làm công nhân may, thu nhập 7.000.000đ/tháng. Hai mẹ con chị đang ở cùng với bố mẹ đẻ tại thị trấn N, huyện T, trong thời gian chị đi làm có ông bà ngoại hỗ trợ chăm sóc cháu. Chị có sức khoẻ, công việc, thu nhập ổn định, có đủ điều kiện nuôi con nên chị có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Người đại diện hợp pháp cho anh H là ông Tạ Đình Q và bà Hứa Thị B trình bày ý kiến: Chị Lê Thị Lan H và anh Tạ Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 07/11/2017 tại UBND xã T nay là thị trấn N, huyện T. Sau khi kết hôn, ngày 10/3/2018, anh H bị tai nạn giao thông. Trước khi bị tại nạn giao thông anh H có sức khoẻ tốt, lao động bình thường. Sau khi bị tai nạn giao thông anh H bị thương ở đầu, ảnh hưởng não nên sức khoẻ yếu, không lao động được, không còn khả năng đi lại. anh H đang được hưởng chế độ bảo trợ xã hội cho người tàn tật 720.000đ/tháng. Sau khi anh H bị tai nạn, tình cảm vợ chồng anh H bị phai nhạt, dạn nứt. Từ tháng 04/2022, chị H và cháu Thiên A về nhà bố mẹ đẻ tại tổ dân phố 10, thị trấn N sinh sống. anh H sống cùng với ông bà, tất cả sinh hoạt, chi phí đều do ông bà lo. Chị H đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh H, ông bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

3. Biên bản xác minh ngày 09/11/2023 tại UBND thị trấn N, huyện T thể hiện: Chị Lê Thị Lan H và anh Tạ Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 07/11/2017 tại UBND xã T nay là thị trấn N, huyện T. Về mâu thuẫn gia đình địa phương không nắm được. Tháng 3/2018, anh H bị tại nạn giao thông, ảnh hưởng não, không còn khả năng lao động, đang được hưởng chế độ bảo trợ xã hội cho người tàn tật nặng là 720.000đ/tháng, người chăm sóc anh H được trợ cấp 360.000đ/tháng. anh H đang sinh sống cùng bố mẹ là ông Tạ Đình Q và bà Hứa Thị B. Ông Q và bà B là người trực tiếp chăm sóc anh H và nhận tiền trợ cấp.

Chị Lê Thị H và anh Tạ Quang H có một con chung là cháu Tạ Lê Thiên A sinh ngày 23/9/2018, cháu đang ở với chị Hương ở nhà ông bà ngoại tại địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn N, huyện T. Cháu Thiên A khoẻ mạnh, phát triển tốt, được đi học đầy đủ, không bị đánh đập bạo hành. Chị Hương làm công nhân may. Chị có sức khoẻ, công việc, thu nhập ổn định, không vi phạm pháp luật, có đủ điều kiện nuôi. Anh Tạ Quang H từ khi bị tai nạn, sức khoẻ yếu, không còn khả năng lao động để tạo ra thu nhập, không có đủ điều kiện để nuôi con.

4. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa phát

biểu quan điểm: Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX: Áp dụng Điều 51,56,81,82,83 LHNGĐ: Xử cho chị Lê Thị Lan H được ly hôn anh Tạ Quang H . Về con chung giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tạ Lê Thiên A sinh ngày 23/9/2018, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản các đương sự không yêu cầu nên không xét. Chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H khởi kiện xin ly hôn anh H cư trú tại thị trấn N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

. Về tư cách tham gia tố tụng: Tháng 3/2018, anh H bị thương tích nặng tại vùng đầu do tai nạn giao thông, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, không còn khả năng lao động, đang được hưởng chế độ bảo trợ xã hội cho người tàn tật nặng là 720.000đ/tháng, người chăm sóc anh H được trợ cấp 360.000đ/tháng. Ông Tạ Đình Q và bà Hứa Thị B là bố mẹ ruột của anh H, đồng thời là người trực tiếp chăm sóc anh H. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn đưa ông Tạ Đình Q và bà Hứa Thị B tham gia vụ án với tư cách là người đại diện theo pháp luật của anh H để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn.

. Về phiên tòa xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo pháp luật của bị đơn. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đều vắng mặt không có lý do. HĐXX phải ra quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Phiên tòa mở lại lần thứ hai, anh H, ông Q và bà B tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Lan H và anh Tạ Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 56/2017 ngày 07 tháng 11 năm 2017 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian gắn thì anh H tại nạn giao thông dẫn đến mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, không còn khả năng lao động, chăm sóc gia đình, vợ chồng sống không có tình cảm và đã sống ly thân một thời gian dài, cuộc sống của ai người đó tự lo. Xét thấy, chị H và anh H không còn thương yêu, chăm sóc nhau; mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hương, xử cho chị Hương được ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung: Cháu Tạ Lê Thiên A sinh ngày 23/9/2018. Xét điều kiện nuôi con của chị H: Chị có công việc và thu nhập ổn định hàng tháng, có nơi ở ổn định, có đủ điều kiện nuôi con. Đối với anh H, không còn khả năng lao động để tạo ra thu nhập, không có điều kiện để nuôi con. Vì vậy, HĐXX chấp nhận nguyện vọng của chị H, giao cháu Thiên A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 271, 273 BLTTDS; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Lan H được ly hôn anh Tạ Quang H.

2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung: Cháu Tạ Lê Thiên A sinh ngày 23/9/2018. Giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thiên A đến khi cháu đủ 18 tuổi. anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số: AA/2021/0000162 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn. Chị H đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, đại diện theo pháp luật của bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ