vanban.org

Bản án 06/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị Thu H như sau:

Buộc ông Lâm Gi phải có nghĩa vụ trả cho bà Tô Thị Thu H số tiền là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng). Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 468… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tô Thị Thu H - Lâm Gi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị Thu H như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NG
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/DS-ST
Ngày 05 - 02 - 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các vị Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Tươi

2. Ông Ngô Minh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện NG, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện NG xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoản phiên tòa số: 04/2024/QĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tô Thị Thu H, sinh năm 1983 (Có mặt)

Trú tại: khóm 1, thị trấn Rạch Gốc, huyện NG, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Lâm Gi, sinh năm 1965 (Vắng mặt)

Trú tại: khóm 8, thị trấn Rạch Gốc, huyện NG, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2023 và các lời trình bày tại Tòa án bà Tô Thị Thu H trình bày như sau:

Ngày 22 tháng 10 năm 2021 ông Lâm Gi có vay của tôi số tiền là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng), lãi suất hai bên tự thỏa thuận, ông Gi hứa thời gian 15 ngày sẽ hoàn trả lại cho tôi. Tuy nhiên, nhiều lần tôi liên lạc với ông Gi lấy tiền nhưng ông Gi hứa hẹn hết lần này đến lần khác mà không có thiện chí trả lại tiền cho tôi.

Đến ngày 13 tháng 8 năm 2022 ông Gi làm giấy nợ và hứa sau 01 tháng 15 ngày sẽ trả cho tôi 100.000.000 đồng. Nhưng ông Gi không thực hiện lời hứa và không trả nợ cho tôi.

Từ những lý do nêu trên tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện NG buộc ông Lâm Gi phải trả cho tôi số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

Đối với bị đơn ông Lâm Gi được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 144/2023/TB-TLVA ngày 06/10/2023 và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công chứng cứ và hòa giải số 102/2023/TB-TA ngày 20/10/2023 nhưng ông Lâm Gi đều vắng mặt không lý do, Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai nhưng ông Lâm Gi không có mặt. Đối với ông Lâm Gi vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân huyện NG, củng không có đơn yêu cầu phản tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ơ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn bà Tô Thị Thu H với bị đơn ông Lâm Gi là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.

Xét nội dung tranh chấp: Nguyên đơn bà H cho rằng có cho Lâm Gi vay tiền, lãi suất thỏa thuận, nhưng từ khi vay cho đến nay Lâm Gi không trả tiền vốn và lãi, mặc dù bà H đã nhiều lần đến gặp để đòi tiền nhưng Lâm Gi cứ hẹn lần, hẹn lựa nhưng không trả tiền cho bà H. Nay bà H yêu cầu Lâm Gi phải trả số tiền vốn 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng), lãi suất tính theo quy định của pháp luật.

Xét thấy việc bà H cho Lâm Gi vay tiền là thực tế có xãy ra. Bởi lẽ, việc bà H cho Lâm Gi vay tiền có làm biên nhận nợ ngày 13/8/2022 do Lâm Gi trực tiếp ký tên, ghi họ tên và thừa nhận có vay số tiền 220.000.000 đồng của bà H, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Tuy nhiên, trong quá trình vay tiền thì ông Lâm Gi không trả tiền vốn, lãi nên bà H khởi kiện yêu cầu Lâm Gi phải thực hiện việc trả số tiền trên cho bà H là có căn cứ nên được chấp nhận. Do đó, buộc Lâm Gi phải có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền vốn là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

Xét yêu cầu tính lãi suất của bà H thấy rằng: Tại phiên tòa, bà H không yêu cầu Lâm Gi trả lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Như vậy, tổng số tiền buộc Lâm Gi trả cho bà H là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng) là đúng theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Lâm Gi phải chịu số tiền là 11.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463 của Bộ luật dân sự. Các Điều 26, 35, 91, 144, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 27/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị Thu H như sau:

Buộc ông Lâm Gi phải có nghĩa vụ trả cho bà Tô Thị Thu H số tiền là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Lâm Gi phải chịu số tiền là 11.000.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NG.

Bà Tô Thị Thu H không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà H số tiền 5.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã dự nộp theo biên lai thu số 0020602 ngày 06/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NG.

Án xử sơ thẩm công khai, bà H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với Lâm Gi có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ