vanban.org

Bản án 06/2023/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 20/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Đình T về việc Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố Hủy bỏ Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 01/VDSPT ngày 17/3/2005 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên bố một người mất tích đối với ông Bùi Đình T. Ông Bùi Đình T có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký hộ tịch và được thực hiện c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bùi Đình T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Đình T về việc Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 70 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
Số:06/2023/ QĐDS-ST
Cầu Giấy, ngày 20 tháng 07 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v: Yêu cầu Hủy quyết định tuyên bố một người mất tích)

------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Ngọc Hà.

Thư ký phiên họp: Ông Tạ Ngọc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên họp: Ông Đinh Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 89/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 06 năm 2023 về Yêu cầu hủy bỏ tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp dân sự số 31/2023/QĐPH-ST, ngày 07 tháng 07 năm 2023 với những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Ông Bùi Đình T, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Tổ 19, phường Q, quận C, TP. Hà Nội.

NỘI D VIỆC DÂN SỰ:

*Thẩm phán, chủ trì phiên họp công bố đơn yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người mất tích của người yêu cầu, bản tự khai, biên bản lấy ý kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ như sau:

Ông Bùi Đình T và bà Nguyễn Thị Phương D đăng kí kết hôn tại UBND xã D từ năm 1991. Năm 1994, ông T và bà D có hộ khẩu thường trú tại xóm Đ, thôn T, phường D, huyện T (nay là Tổ 19, Phường Q, Quận C, TP. Hà Nội). Quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn nên từ tháng 05 năm 2000, ông T đi làm ăn xa không về nhà, cũng không thông báo cho bà D biết địa chỉ sinh sống.

Năm 2004, bà D đã làm đơn đến Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy để làm thủ tục xác nhận ông Bùi Đình T mất tích. Ngày 30/11/2004, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã có Quyết định chấp nhận yêu cầu của bà D, tuyên bố ông Bùi Đình T đã mất tích. Năm 2005, do có kháng cáo về việc phân chia tài sản của bà D, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã xét xử theo trình tự phúc thẩm, tại Quyết định số 01/VDSPT ngày 17/3/2005 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã quyết định: Tuyên bố ông Bùi Đình T mất tích. Sau khi có quyết định của Tòa án, bà D đã làm đơn xin ly hôn ông T tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.

Thực tế, trong khoảng thời gian trên, ông T đi làm ăn xa, không có địa chỉ nên bị mất liên lạc với gia đình. Gần đây, ông mới liên lạc được với gia đình và trở về quê nhà. Khi về đến nhà, ông mới biết đã bị Tòa án tuyên bố mất tích từ năm 2004.

Nay, ông T yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố một người mất tích tại Quyết định số 01/VDSPT ngày 17/03/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với ông Bùi Đình T để ông có thể khôi phục lại quyền lợi công dân của mình.

- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật có tranh chấp. Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng phiên họp là đúng quy định của pháp luật.

Về nội D: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của ông Bùi Đình T tuyên bố hủy quyết định tuyên bố mất tích của ông Bùi Đình T.

Về lệ phí: Ông Bùi Đình T chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Tại Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 01/VDSPT ngày 17/3/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Tuyên bố ông Bùi Đình T mất tích. Nay ông Bùi Đình T có địa chỉ tại: Tổ 19, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội đã trở về địa phương và trực tiếp yêu cầu Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy giải quyết việc dân sự hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đây là yêu cầu giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.

Xét việc vắng mặt của đương sự: Ông Bùi Đình T có đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 và khoản 3 điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.

Xét đơn yêu cầu của ông Bùi Đình T về việc hủy quyết định tuyên bố ông Bùi Đình T mất tích:

Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 01/VDSPT ngày 17/3/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ban hành hợp lệ đúng pháp luật.

Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp ông Bùi Đình T trở về hoặc người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó.

Căn cứ theo quy đinh tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó.

Tại Căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và dữ liệu về dân cư cấp ngày 05/03/2018 cho anh Bùi Đình T, sinh năm 1967 thể hiện ông Bùi Đình T có địa chỉ thường trú tại Tổ 19 phường Q, quận C, thành phố Hà Nội.

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án ông Bùi Đình T đều trình bày ông T đi làm ăn xa, không có địa chỉ nên bị mất liên lạc với gia đình. Gần đây, ông mới liên lạc được với gia đình và trở về quê nhà. Nay ông Bùi Đình T đã trở về yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với ông là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật dân sự và Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Đình T là phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về lệ phí: Ông Bùi Đình T chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Ông Bùi Đình T có quyền kháng cáo quyết định này theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 70 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 390 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Đình T về việc Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố Hủy bỏ Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 01/VDSPT ngày 17/3/2005 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên bố một người mất tích đối với ông Bùi Đình T.

Ông Bùi Đình T có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký hộ tịch và được thực hiện các quyền dân sự khác có liên quan sau khi quyết định này có hiệu lực pháp luật.

2. Về lệ phí: Ông Bùi Đình T phải chịu 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm (ông T đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng số 19523 ngày 20/06/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, nay được trừ vào tiền lệ phí dân sự sơ thẩm).

4. Ông Bùi Đình T có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ