vanban.org

Bản án 06/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Dương Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/6/2023. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HSST
Ngày 26-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Hoan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Đức Phú;

Ông Đỗ Văn Sơn;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26-10-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2023/TLST-HS, ngày 06-10-2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS ngày 13-10-2023, đối với bị cáo:

Dương Văn T, sinh năm 1994 ; HKTT: Thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do;; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Dương Văn V, sinh năm 1966; Con Ngô Thị D, sinh năm 1968;

Vợ là Hoàng Ngọc L, sinh năm 1996; Con: Có 01 con, sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 15 phút ngày 24/6/2023, tại khu nhà trọ của anh Nguyễn Thế M tại khu Sơn Nam, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Tổ công tác Công an phường Nam Sơn tiến hành kiểm tra phòng trọ của Dương Văn T, sinh năm 1994, HKTT: thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình kiểm tra thu giữ:

- Thu tại nền phòng trọ do T tự nguyện giao nộp 04 gói đều bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng. T khai nhận đây là các gói chứa ma túy Heroin. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong các gói ma túy trên vào phong bì thư (ký hiệu M1).

- Thu tại túi đựng quần áo trong phòng trọ do T tự nguyện giao nộp 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. T khai nhận đây là ma túy Heroin. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong túi nilong trên vào phong bì thư (ký hiệu M2).

- Ngoài ra T còn tự nguyện giao nộp 01 cân điện tử màu đen (BL 32-34)

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng thu giữ của T. Tại bản Kết luận giám định số 1383/KL-KTHS ngày 26/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận:

“- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,3587 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (Heroin);

- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 3,4929 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (Heroin).

Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, Dương Văn T khai nhận như sau:

Buổi sáng ngày 24/6/2023, do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng cho bản thân, T đi từ nhà trọ ở khu Sơn Nam, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đến khu vực thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy. Tại đây, T hỏi mua được của 01 người đàn ông không quen biết 2.000.000 đồng tiền ma túy được 04 gói đều bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng và 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (đều là ma túy Heroin). Sau đó T cầm các gói ma túy đi về phòng trọ. Trên đường đi về, T nhặt được 01 cân điện tử màu đen đã qua sử dụng nên cầm về phòng trọ, dự định dùng để cân ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi về đến phòng trọ, T cất giấu 04 gói ma túy bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng dưới nền phòng trọ, còn 01 túi nilong màu trắng chứa ma túy thì cất vào trong túi chứa quần áo ở trong phòng trọ. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đang ở trong phòng trọ thì lực lượng Công an đến kiểm tra, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Với các tình tiết nêu trên tại Bản Cáo trạng số 197/CT - VKSTPBN ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Dương Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên bản cáo trạng số 197/CT - VKSTPBN ngày 06/10/2023 và sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Dương Văn T từ 40 tháng đến 46 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cân điện tử.

Bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản kiểm tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 16 giờ 15 phút ngày 24/6/2023, tại khu nhà trọ của nhà anh Nguyễn Thế M tại khu Sơn Nam, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Tổ công tác Công an phường Nam Sơn kiểm tra, phát hiện Dương Văn T, sinh năm 1994, HKTT: thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép trong phòng trọ 3,8516 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo Dương Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số 197/CT - VKSTPBN ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Dương Văn T với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của người sử dụng, làm suy giảm nòi giống và làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Ma tuý cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà mình đã thực hiện; Cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Sau khi phạm tội, tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Lượng ma túy còn lại sau giám định là vật không được sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

01 chiếc cân điện màu đen, xét thấy không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T ở thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Thế M, sinh năm 2000, HKTT: Khu Sơn Nam, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh là chủ nhà trọ của T, anh M không biết việc T tàng trữ trái phép ma túy trong phòng trọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh không xem xét xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về thu nộp án phí, lệ phí.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Dương Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/6/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo Dương Văn T 45 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/10/2023 để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa mẫu vật còn lại sau giám định có đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cân điện tử màu đen.

(Theo biên bản giao nhận tài sản vật chúng ngày 02 tháng 10 năm 2023).

Về án phí: Bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ