vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T và Nguyễn Văn T2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 19 (mười chín) tháng tù thời hạn tính từ ngày 02-9-2022. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 16 (mười sáu) tháng tù thời hạn tính từ ngày 02-9-2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T- Bùi Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T và Nguyễn Văn T2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:06/2023/HS-ST
Ngày 17-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH- TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Linh và ông Nguyễn Thanh Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Thuỷ- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức- kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 01 năm 2023 Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh tổ chức xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 111/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2023/QĐST-HS ngày 11-01-2023 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Bùi Văn T. Tên gọi khác: không, sinh năm 1979

Tại: Khu dân cư V, phường VĐ, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Nơi cư trú: Khu dân cư V, phường VĐ, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có vợ (đã ly hôn) và 01 con.

Con ông: Bùi Văn T3 và bà Nguyễn Thị B.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPVPHC ngày 08-8-2013 của Công an tỉnh Hải Dương về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 12-8-2013 T thi hành xong.

- Bản án số 81/2015/HSST ngày 29-12-2015 của Toà án nhân dân thị xã Chí Linh xử phạt 33 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 22-3-2018 T thi hành án xong hình phạt tù. Ngày 04-6-2016 T thi hành xong phần án phí dân sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-9-2022 đến ngày 05-9-2022 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay.

2.Họ và tên: Nguyễn Văn T2. Tên gọi khác: không, sinh năm 1971

Tại: Khu dân cư N, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Nơi cư trú: Khu dân cư N, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có vợ và 01 con.

Con ông: Nguyễn Văn H và bà Đỗ Thị H2.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPVPHC ngày 04-01-2010 của Công an huyện Chí Linh về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 05-01-2010 T2 thi hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-9-2022 đến ngày 05-9-2022 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay.

Người chứng kiến:

- Ông Trần Thanh N, sinh năm 1955

(bị cáo T, T2 đều có mặt, ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ 20 phút ngày 02-9-2022 Bùi Văn T đứng ở cổng trung tâm y tế dự phòng thành phố Chí Linh thì gặp Nguyễn Văn T2. T bảo T2 “tao có hai trăm, hai anh em đi lấy cái chơi” (ý T rủ Toán đi mua ma tuý về sử dụng cùng). T2 đồng ý. Do T2 chưa có tiền nên T đã ứng trước số tiền 200.000 đồng để mua ma tuý, khi nào có tiền T2 sẽ hoàn trả cho T 100.000 đồng. Sau đó, T2 đưa chìa khoá xe máy biển kiểm soát 34C1-47721 (xe của chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1974 địa chỉ tại: Khu dân cư N, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương) là vợ của T2 cho T điều khiển chở T2 đến khu vực chân cầu Bình Than thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh để mua ma tuý. Tại đây T xuống xe đi bộ khoảng 10m thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch và bảo “anh ơi cho hai trăm” (ý T hỏi mua 200.000 đồng tiền ma tuý). Người đàn ông gật đầu. T đưa cho người đàn ông số tiền 200.000 đồng và nhận 01 gói ma tuý dạng bột màu trắng được gói bằng giấy màu trắng. T cất gói ma tuý vào túi quần phía sau bên trái rồi quay lại chỗ T2 đứng, rồi lên xe chở T2 về. Đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày khi đi đến khu vực ngã ba đèn xanh đèn đỏ thuộc khu dân cư Mật Sơn, phường Chí Minh, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần phía sau, bên trái của T 01 gói màu trắng kích thước 1,5x1,5cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng nghi là ma tuý. T và T2 khai nhận đó là ma tuý vừa mua được với mục đích về để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 491/KLGĐ-PC 09 ngày 03-9-2022 của phòng Kĩ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trong phòng bì gửi đến giám định có khối lượng là 0,128gam là ma tuý loại Heroine. Hoàn lại sau giám định 0,100 gam ma tuý loại Heroine và T2 bộ vỏ bao gói mẫu.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T3 chiếc xe máy biển kiểm soát 34C1- 47721

Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKS-CL ngày 25-11-2022,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo Bùi Văn T và Nguyễn Văn T2 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Văn T và Nguyễn Văn T2 khai nhận T2 bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17; Điều 38;Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự:

Xử phạt Bùi Văn T từ 13 tháng đến 16 tháng tù thời hạn tính từ ngày 02-9-2022.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn T2 từ 13 tháng đến 16 tháng tù thời hạn tính từ ngày 02-9-2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng:

Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý được hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.

Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Văn T2 khai nhận T2 bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo là hoàn T2 phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 7 giờ 20 phút ngày 02-9-2022 Bùi Văn T và Nguyễn Văn T2 cùng đi mua ma tuý về sử dụng. Do chưa có tiền nên T2 nợ T 100.000 đồng. T điều khiển xe mô tô (của chị Nguyễn Thị Thanh là vợ T2) chở T2 đi mua. Khi đi đến khu vực chân cầu Bình Than thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, T đã mua được của người đàn ông không có nhân thân một gói ma tuý chất bột dạng cục màu trắng được gói trong giấy màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý T chở T2 về, khi đi đến khu vực ngã tư thuộc khu dân cư Mật Sơn, phường Chí Minh, thành phố Chí Linh thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh thu giữ tại túi quần phía sau bên trái của T 0,128 gam là ma tuý loại Heroine. T và T2 khai mua ma tuý về sử dụng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Do vậy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố các bị cáo đối với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận về hành vi của mình. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

-Bị cáo Bùi Văn T có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị B được Chủ tịch nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt: Đây là vụ án có đồng phạm nên khi xem xét đánh giá hình phạt cần xem xét vai trò, nhân thân của từng bị cáo để quyết định.

Bị cáo Bùi Văn T là người giữ vai trò chính. Bị cáo đề xuất việc mua ma tuý về sử dụng. Bị cáo là người trực tiếp mua ma tuý. Mặt khác bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu. Năm 2013 bị cáo bị Công an tỉnh Hải Dương xử phạt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 12-8-2013 T thi hành xong. Năm 2015 bị cáo bị Toà án nhân dân thị xã Chí Linh xử phạt 33 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 22-3-2018 T thi hành án xong hình phạt tù. Ngày 04-6-2016 T thi hành xong phần án phí dân sự. Mặc dù tính đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xoá án tích, xoá tiền sự nhưng cũng đủ đánh giá bị cáo là người có ý thức coi người pháp luật. Bị cáo không lấy đó là bài học mà lại tiếp tục đi vào con đường vi phạm pháp luật. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù theo Điều 38 của Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Nguyễn Văn T2 thực hiện với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực. Bị cáo cùng đi mua ma tuý với T về sử dụng. Bị cáo cũng là người có nhân thân xấu. Năm 2010 bị cáo bị Công an huyện Chí Linh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 05-01- 2010 bị cáo chấp hành xong. Mặc dù tính đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xoá tiền sự nhưng điều đó cũng thể hiện bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng:

Đối với 0,100 gam ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ niêm phong mẫu vật là những tài sản không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 34C1-47721, quá trình điều tra đã xác định tài sản riêng của chị Nguyễn Thị T3. Chị không biết bị cáo T2 dùng vào việc đi mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh đã trả lại cho chị là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong vụ án này đối với người đàn ông bán ma tuý cho Bùi Văn T không rõ nhân thân, lý lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh không có căn cứ để xử lý.

Chị Nguyễn Thị T3 cho Nguyễn Văn T2 mượn xe nhưng chị không biết bị cáo dùng để đi mua ma tuý nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh không đặt ra việc xử lý với chị Thanh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T và Nguyễn Văn T2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17, Điều 38, Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 19 (mười chín) tháng tù thời hạn tính từ ngày 02-9-2022.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 16 (mười sáu) tháng tù thời hạn tính từ ngày 02-9-2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4.Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được niêm phong trong phong bì mặt trước ghi số 491/KL-KTHS, cơ quan CSĐT-CATP Chí Linh tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 1284 ngày 02-9-2022 mặt sau phong bì có 3 dấu đỏ giáp lai của phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và 3 chữ kí niêm phong mẫu.

( Tình trạng cụ thể của vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh ngày 28-11-2022).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí;Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ