- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn V - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày 28-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh; ông Vũ Ngọc Ánh.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Huế - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/HS-ST ngày 17-01-2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 15-02-2023, đối với bị cáo:
1. Bị cáo Lý Văn V - Tên gọi khác: Không; sinh ngày 05-5-1998 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn x, xã Đ, huyện L, tỉnh Yên Bái; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn H, sinh năm 1973; con bà: Nông Thị L, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22-11-2022 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công An thành phố Yên Bái. Có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1993. Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn x, xã Đ, huyện L, tỉnh Yên Bái.
3. Người làm chứng: Anh Vũ Ngọc Q, sinh năm 1998. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
4. Người chứng kiến: Anh Đoàn Tiến Đ, sinh năm 1970. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 21-11-2022, Lý Văn V và Nguyễn Văn D được Vũ Ngọc Q mời đi uống bia tại quán bia B tại tổ x, phường N, thành phố Y. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày D đi về, còn V nói với Q đưa V đi có việc. Q đồng ý và đi theo sự chỉ dẫn của V đến khu vực tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. V bảo Q đứng đợi còn V một mình đi vào phía sau chợ ga Y. Tại đây, V mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng. Khi mua được ma túy V đi ra bảo Q đưa về, khi đi đến khu vực tổ dân phố H, phường H, thành phố Y thì V bảo Q dừng lại cho V mua nước. Khi V mua nước xong quay ra thì bị bắt quả tang, thu giữ trên người V: 01 gói nilon màu trắng có viền khóa màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), 01 điện thoại di động và số tiền 1.020.000 đồng tiền do Ngân hàng nhà nước Việt nam phát hành.
Tại bản kết luận giám định số: 612/KL-KTHS ngày 27-11-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lý Văn V có khối lượng là 0,34 gam là ma túy; loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKSTP ngày 16-01-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Lý Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn V từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn V khai báo thành khẩn, không tranh luận gì và xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn V khai nhận hành vi tàng trữ 0,34 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ, lên án và cũng là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy, nhưng do sống buông thả. Do đó, cần phải có mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. Nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lý Văn V khai nhận nguồn gốc ma túy là mua của một người đàn ông nhưng V không biết đầy đủ tên, tuổi và địa chỉ. Nên không có cơ sở để điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án.
Đối với Vũ Ngọc Q là người đi cùng V nhưng không biết và không liên quan đến việc phạm tội của V nên không đặt ra vấn đề xử lý đối với Q.
Về vật chứng:
Đối với 0,34 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn V, Cơ quan giám định đã trích 0,06 gam làm mẫu giám định còn lại 0,28 gam được niêm phong bằng một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn V ngày 21-11-2022; 01 vỏ phong bì đã được mở niêm phong, mặt trước có ghi dòng chữ: Tiền thu giữ của Lý Văn V khi bắt quả tang ngày 21-11-2022 và 01 túi nilon màu trắng, có kẹp khóa viền màu xanh cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu bạc tạm giữ của bị cáo V. Trong quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Hoàng Văn C nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C là phù hợp. Anh C đã nhận lại tài sản và không đề nghị gì.
Đối với số tiền 1.020.000 đồng thu giữ của Lý Văn V, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn V 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22-11-2022.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 0,28 gam ma túy loại Methamphetamine được niêm phong bằng một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn V ngày 21/11/2022 (sau khi đã trích mẫu giám định), mặt sau của phong bì được dán kín, tại các mép dán có đầy đủ họ tên, chữ ký của những thành phần tham gia niêm phong và bốn hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái; 01 vỏ phong bì đã được mở niêm phong, mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn V ngày 21/11/2022; 01 vỏ phong bì đã được mở niêm phong, mặt trước có ghi dòng chữ: Tiền thu giữ của Lý Văn V khi bắt quả tang ngày 21/11/2022 và 01 túi nilon màu trắng, có kẹp khóa viền màu xanh.
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn V số tiền 1.020.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Lý Văn V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 bị cáo Lý Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái. - VKSND TP. Yên Bái; - Công an TP. Yên Bái; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CATP; - Chi cục THADSTP. Yên Bái; - Nhà tạm giữ CATP; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - Bị cáo, người liên quan; - Lưu: HSVA; TA; THA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. hành án dân sự./. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thế Hòa THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Nhật được quyền kháng cáo bản án Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi |