- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dũng - Phạm tội Vi phạm quy đình về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm “Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ____________________ Bản án số:06/2023/HS – ST Ngày 10-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha
Các Hội thẩm N dân:
Ông Huỳnh Phước
Ông Đào Khel
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án N dân thành phố Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảo – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10-01-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2022/QXXST – HS ngày 16 tháng 11 năm 2022; đối với bị cáo:
Lê Văn D, sinh năm 1957 tại Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số 189T, đường C, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Minh C (đã chết) và bà Trần Thị C; Bị cáo có vợ và 06 người con; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 27/12/2022 cho đến nay. (có mặt).
- Bị hại: Ông Trần Văn B, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1970.
2. Anh Trần Văn B, sinh năm 1999.
3. Anh Trần Văn T, sinh ngày 18/02/2004.
Cùng nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Đoàn Thành N, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp 1, thị trấn K, huyện S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
+ Ông Lý S, sinh năm 1961, nơi cư trú: Số 84/3, đường V, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 15 phút, ngày 21 tháng 10 năm 2020 Lê Văn D một mình điều khiển xe đạp đi từ nhà số 189T đường Lê Hoàng Chu, khóm 1, phường 7, thành phố Sóc Trăng để đến Khu dân cư Minh Châu, phường 7, thành phố Sóc Trăng lượm lúa. Khi D điều khiển xe đi đến trước đầu hẻm số 170 đường Võ Văn Kiệt, khóm 1, phường 7, thành phố Sóc Trăng thì D cho xe đi ngược chiều từ hẻm 170 đường Võ Văn Kiệt theo hướng từ Bạc Liêu về Cần Thơ để đi vào Khu dân cư Minh Châu. Khi D đi đến làn đường của xe ô tô cách đầu dãy phân cách cố định khoảng 02 mét thì lúc này Đoàn Thành N là tài xế điều khiển xe ô tô khách (loại xe buýt, đưa rướt công N) loại 24 chỗ ngồi, 21 chỗ đứng mang biển số 83L-1563 cho ông Nguyễn Vinh H, chạy tuyến Kế Sách
- Thành phố Sóc Trăng đi rước công N của Công ty Hải sản từ huyện Kế Sách để chở đến Xí nghiệp 1 tại đường Võ Văn Kiệt, phường 7, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Khi xe của N điều khiển đi đến khu vực trước nhà số 174 đường Võ Văn Kiệt, khóm 1, phường 7, thành phố Sóc Trăng gần vị trí giao nhau giữa đường Võ Văn Kiệt và đường vào Khu dân cư Minh Châu, N điều khiển xe trên làn đường ô tô phần đường bên phải theo hướng từ Cần Thơ về Bạc Liêu thì N phát hiện D điều khiển xe đạp theo chiều ngược lại đến làn đường dành cho xe ô tô, khi N nhìn thấy D thì cách nhau khoảng 05 mét nên N đạp phanh và chuyển hướng về phía bên phải để tránh nhưng do xe bị mất phanh nên xe của N điều khiển va chạm vào xe đạp của D làm D và xe té ngã xuống đường. Sau đó xe ô tô biển số 83L-1563 tiếp tục va chạm vào xe đạp do ông Trần Văn B điều khiển và xe mô tô, biển số 83P3-241.91 do Lý S điều khiển chở theo vợ là bà S Thị C lưu thông cùng chiều phía trước theo hướng từ Cần Thơ về Bạc Liêu. Xe ô tô biển số 83L-1563 tiếp tục lao lên vỉa hè bên phải va chạm vào nhà ông Huỳnh Ngọc K làm hư hỏng tài sản trong nhà và bà Thạch Thị Tuyết S đang ngồi uống cà phê trên vỉa hè, sau đó thì xe ô tô biển số 83L-1563 dừng lại. Vụ tai nạn xảy ra làm cho Trần Văn B bị chấn thương sọ não sau đó tử vong, ông Lý S, bà Sơn Thị C, bà Thạch Thị Tuyết S và người ngồi trên xe ô tô biển số 83L-1563 là bà Nguyễn Thị L bị thương. Xe ô tô biển số 83L-1563, xe mô tô biển số 83P3-241.91, 02 xe đạp thì bị hư hỏng nặng. Quá trình điều tra thì Lê Văn D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 170/PY.PC09, ngày 05 tháng 11 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận Trần Văn B bị bầm tụ máu dưới da đầu ở vùng thái dương - đỉnh bên phải, số đo (11 x 08 cm); tụ máu hoàn toàn trong cơ thái dương bên trái; hộp sọ bị nứt ở vùng thái dương bên phải, vết nứt hình đường thẳng dài 3,5 cm; bầm tụ máu ở bán cầu đại não bên phải, số đo (10 x 06 cm); nguyên nhân chết: chấn thương sọ não.
Tại bản Kết luận giám định số 455/C09B, ngày 14 tháng 4 năm 2021 của Phân Viện khoa học hình sự của Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm tham gia tai nạn giao thông, hệ thống phanh xe ô tô biển số 83L-1563 bị hư hỏng, không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia giao thông (hệ thống phanh xe ô tô biển số 83L-1563 bị hư hỏng trước khi xảy ra tai nạn giao thông); tại thời điểm tham gia tai nạn giao thông hệ thống lái xe ô tô biển số 83L-1563 hoạt động bình thường, không bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 105/TgT-PY, ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng, kết luận: Lý S, lồng ngực cân đối hai bên, ấn đau vùng cung sườn 9 bên phải; Sẹo lấy da để ghép xuôi mặt trước đùi trái, kích thước 16cm x 03cm; Sẹo khuyết đã ghép da ở mặt sau cẳng chân trái, kích thước 14cm x 04cm, sẹo gây ảnh hưởng chức năng cẳng chân trái; Sẹo phẩu thuật xuôi mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái, kích thước 17 cm x 0,3cm; sẹo phẩu thuật xuôi mặt trước 1/3 dưới cẳng chân trái, kích thước 04cm x 0,3cm; tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 31%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 168/KL.HĐĐG, ngày 24 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Sóc Trăng kết luận: 01 (một) tủ nhôm hình L có kích thước dài 1,7m cao 0,44m bị móp phần thân bằng nhôm; bộ kính dày 07 li ốp trên tủ bị bể, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 65%, với số tiền 1.560.000 đồng. 01 (một) tủ đứng bằng nhôm bị bể hai cửa kính có kích thước mỗi cánh 0,64 x 0,43m, kính dày 3 li, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 85%, với số tiền 467.500 đồng. 01 (một) tủ nhôm treo tường có kích thước dài 2,26m, rộng 0,35m, cao 1,17m, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 55%, với số tiền 1.815.000 đồng. 01 (một) bộ cửa cuốn (cửa và mô tưa cuốn) có diện tích 3,35 x 3,5m = 11,73m2, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 20.527.500 đồng. 01 (một) mái che di động diện tích 3,8 x 2,85m, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 6.498.000 đồng. 01 (một) tivi hiệu Samsung 32 inch, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 4.500.000 đồng. 01 (một) căn nhà bị hư hỏng diện tích dài 4,8m, rộng 3,8m, có kết cấu: cột bê tông cốt thép, nền gạch Ceramic, mái tole, xà gồ gỗ, la phông (diện tích 3,8 x 4,8m), tường gạch 0,10m, hư hỏng do tai nạn giao thông, giá trị sử dụng còn lại khi 80%, tỷ lệ hư hỏng 80%, với số tiền 46.838.522 đồng. 01 (một) cục nóng máy điều hòa nhiệt độ hiệu Toshiba, công suất 1 mã lực, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 30%, với số tiền 540.000 đồng. 01 (một) xe nước mía, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 30%, với số tiền 4.550.000 đồng. 02 (hai) cây cột sắt ống cao 3,36m, loại Ø25, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 124.528 đồng; 01 (một) cột sắt ống cao 3,0m, loại Ø30, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 56.409 đồng; 01 (một) cột sắt vuông cao 3,0m, diện tích 0,06 x 0,12m, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 36.000 đồng. 02 (hai) thanh sắt: một thanh diện tích dài 1m, chu vi 0,44 x 0,08m; một thanh xéo kích thước dài 1m, chu vi 0,04 x 0,04m, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 29.454 đồng. 01 (một) bảng hiệu khung kim loại, mặt ốp nhựa có diện tích cao 1,4m, ngang 1,2m, sâu 0,16m, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 907.200 đồng; 01 (một) xe ô tô khách biển số 83L-1563, nhãn hiệu TRANSINCO, màu trắng xanh, số chỗ ngồi 24, số chỗ đứng 21, hư hỏng do tai nạn giao thông, giá trị sử dụng còn lại 70%, tỷ lệ hư hỏng 100%, với số tiền 90.041.700 đồng; 01 (một) xe mô tô biển số 83P3-241.91, nhãn biệu WAYEC, màu S đen-xám, số máy:152FMH112568, số khung: H1UMA1112568, dung tích 107, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 80%, với số tiền 3.200.000 đồng; 01 (một) xe đạp đầm màu trắng, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 85%, với số tiền 1.020.000 đồng; 01 (một) xe đạp đầm màu nâu, hư hỏng do tai nạn giao thông, tỷ lệ hư hỏng 50%, với số tiền 300.000 đồng. Tổng tài sản có giá 183.011.813 đồng.
Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công thành phố Sóc Trăng đã thu giữ: 01 (một) xe ô tô khách biển số 83L-1563 nhãn hiệu TRANSINCO, màu trắng xanh, số chổ ngồi 24, số chổ đứng 21, số máy F21300396085, số khung DB4T7A001024; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 0002847; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 3391177; 01 (một) giấy phép lái xe số 790987004947 mang tên Đoàn Thành N; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAYEC màu đen-xám, số máy 152FMH112568, số khung H1UMA1112568, biển số 83P3-241.91; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 133943; 01 (một) xe đạp đầm màu trắng; 01 (một) xe đạp đầm màu nâu; 01 (một) xe nước mía. Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Sóc Trăng đã trả: 01 (một) xe ô tô khách biển số 83L-1563 nhãn hiệu TRANSINCO, màu trắng xanh, số chổ ngồi 24, số chổ đứng 21, số máy F21300396085, số khung DB4T7A001024; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 0002847; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 3391177; 01 (một) giấy phép lái xe số 790987004947 mang tên Đoàn Thành N; 01 (một) xe đạp màu trắng và 01 (một) xe nước mía cho các chủ sở hữu. Riêng đối với xe mô tô biển số 83P3-241.91 khi Lý S điều khiển xe thì không có giấy phép lái xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Sóc Trăng đã chuyển cho Đội Cảnh sát giao thông, Công an thành phố Sóc Trăng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Đoàn Thành N đã hỗ trợ cho gia đình ông Trần Văn B với số tiền 80.000.000 đồng; Hỗ trợ cho ông Lý S 70.000.000 đồng. Riêng ông Lý S yêu cầu bị cáo Lê Văn D bồi thường với số tiền 100.000.000 đồng, bị cáo Lê Văn D đồng ý bồi thường với số tiền 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án thì ông Lý S chỉ yêu cầu bị cáo D bồi thường số tiền 10.000.000 đồng do thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn và gia đình bị cáo đã bồi thường xong số tiền 10.000.000 đồng cho ông Lý S.
Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKS.TPST ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát N dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Văn D về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, d Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự, bị cáo đã thỏa thuận, bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý S xong.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý S yêu cầu xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm phần trách nhiệm bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn D; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 119/CT – VKS.TPST ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát N dân thành phố Sóc Trăng và đề nghị áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự, do bị cáo với ông Lý S đã thỏa thuận, bồi thường xong, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết, cũng như xử lý vật chứng trả cho bị cáo 01 chiếc xe đạp.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người bị hại gồm bà Huỳnh Thị K, anh Trần Văn B, anh Trần Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thành N. Xét thấy, trong quá trình điều tra vụ án những người này đã có lời khai cụ thể, rõ ràng và vấn đề bồi thường thiệt hại về trách nhiệm dân sự đã xử lý xong. Nên Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định chung.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn D đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông làm người bị hại ông Trần Văn B chết, ông Lý S bị tổn thương cơ thể 31% và thiệt hại nhiều tài sản là lỗi của bị cáo, do bị cáo đi xe đạp ngược chiều, không đúng phần đường dẫn đến việc anh Đoàn Thành N là tài xế điều khiển xe ô tô khách, mang biển số 83L-1563 đạp phanh và chuyển hướng về phía bên phải để tránh xe của bị cáo nhưng xe ô tô khách của N mất phanh va chạm vào xe đạp của ông B, xe mô tô của ông Lý S đang điều khiển cùng chiều phía trước và tiếp tục lao lên vỉa hè va chạm vào nhà thuốc của ông Huỳnh Ngọc K, bà Thạch Thị Tuyết S đang ngồi trên vỉa hè, sau đó xe ô tô của N mới dừng lại, xảy ra hậu quả vụ tai nạn như nêu ở trên. Xét lời khai nhận tội của bị cáo D phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người có liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường vụ tai nạn, các bản kết luận giám định pháp y về tử thi, về thương tích, kết luận giám định số 455/C09B của Viện khoa học hình sự, Bộ công an về an toàn kỹ thuật đối với xe ô tô khách và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 05 giờ 15 phút, ngày 21 tháng 10 năm 2020 bị cáo Lê Văn D điều khiển xe đạp đi từ nhà số 189T đường Lê Hoàng Chu, khóm 1, phường 7, thành phố Sóc Trăng để đến Khu dân cư Minh Châu, phường 7, thành phố Sóc Trăng. Khi D điều khiển xe đi đến trước đầu hẻm số 170 đường Võ Văn Kiệt, khóm 1, phường 7, thành phố Sóc Trăng thì bị cáo D cho xe đi ngược chiều từ hẻm 170 đường Võ Văn Kiệt theo hướng từ Bạc Liêu về Cần Thơ để đi vào Khu dân cư Minh Châu. Khi D đi đến làn đường của xe ô tô cách đầu dãy phân cách cố định khoảng 02 mét thì lúc này Đoàn Thành N là tài xế điều khiển xe ô tô khách (loại xe buýt, đưa rướt công N) loại 24 chổ ngồi, mang biển số 83L-1563 chạy tuyến Kế Sách - Thành phố Sóc Trăng đi rước công N của Công ty Hải sản từ huyện Kế Sách để chở đến Xí nghiệp 1 tại đường Võ Văn Kiệt, phường 7, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Khi xe của N điều khiển đi đến khu vực trước nhà số 174 đường Võ Văn Kiệt, khóm 1, phường 7, thành phố Sóc Trăng gần vị trí giao nhau giữa đường Võ Văn Kiệt và đường vào Khu dân cư Minh Châu, N điều khiển xe trên làn đường ô tô phần đường bên phải theo hướng từ Cần Thơ về Bạc Liêu thì N phát hiện D điều khiển xe đạp theo chiều ngược lại đến làn đường dành cho xe ô tô, khi N nhìn thấy D thì cách nhau khoảng 05 mét nên N đạp phanh và chuyển hướng về phía bên phải để tránh nhưng do xe bị mất phanh nên xe của N điều khiển va chạm vào xe đạp của D làm D và xe té ngã xuống đường. Sau đó xe ô tô biển số 83L-1563 tiếp tục va chạm vào xe đạp do ông Trần Văn B điều khiển và xe mô tô, biển số 83P3-241.91 do Lý S điều khiển chở theo vợ là bà Sơn Thị C lưu thông cùng chiều phía trước theo hướng từ Cần Thơ về Bạc Liêu. Xe ô tô biển số 83L-1563 tiếp tục lao lên vỉa hè bên phải va chạm vào nhà ông Huỳnh Ngọc K làm hư hỏng tài sản trong nhà và bà Thạch Thị Tuyết S đang ngồi uống cà phê trên vỉa hè, sau đó thì xe ô tô biển số 83L-1563 dừng lại, gây ra hậu quả chết 01 người, bị thương một người với tỷ lệ 31% và thiệt hại tài sản với tổng giá trị 183.011.813 đồng. Nguyên N dẫn đến vụ tai nạn giao thông hậu quả như trên lỗi chính thuộc về bị cáo D, bị cáo điều khiển xe đạp đi ngược chiều, không đúng phần đường và không nhường đường tại nơi đường giao nhau. Hành vi nêu trên của bị cáo D đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Do đó, Cáo trạng số 119/CT – VKS.TPST ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát N dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Văn D về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không làm oan, sai cho bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Xét về tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Lê Văn D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và bị cáo phải nhận thức được rằng khi tham gia giao thông phải đảm bảo thực hiện đúng các quy tắc tham gia giao thông để đảm bảo an toàn tính mạng cho mình và người khác. Nhưng chỉ vì ý thức chủ quan của bị cáo, không thận trọng khi tham gia giao thông và không thực hiện đúng các quy tắc đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông, điều khiển xe đạp nhưng đi ngược chiều, không đúng phần đường và không nhường đường tại nơi đường giao nhau gây ra tai nạn giao thông, gián tiếp gây nên hậu quả chết người, bị thiệt hại tài sản trên 100.000.000 đồng, nên bị cáo phải gánh chịu hậu quả pháp lý về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp gây nên hậu quả chết 01 người, 01 người bị tổn thương cơ thể 31%, thiệt hại tài sản hơn 100.000.000 đồng và tình hình an ninh trật tự về an toàn giao thông tại địa phương, đặc biệt là tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Sóc Trăng luôn diễn biến hết sức phức tạp, luôn xảy ra tai nạn gây ra hậu quả nghiêm trọng và có chiều hướng gia tăng như trường hợp của bị cáo khi tham gia giao thông nhưng không chấp hành đúng quy định pháp luật giao thông đường bộ. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo và sửa chữa sai lầm của mình nhằm mang tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung và nâng cao ý thức của những người tham gia giao thông.
Tuy nhiên, trước khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc đến nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đã gây ra, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng cho ông Lý S, bản thân bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần nào hạn chế, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hậu quả thiệt hại của vụ tai nạn giao thông không phải do bị cáo trực tiếp gây ra, người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin bãi nại, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà đáng lẽ ra bị cáo phải chịu. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và có nhân thân tốt, bản thân bị cáo không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế như đã nhận định, phân tích nêu trên nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt của Điều luật bị truy tố, thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với người phạm tội.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự: Đã được xử lý trong quá trình điều tra, các thiệt hại về tài sản của ông Huỳnh Ngọc K và tính mạng của ông Trần Văn B, thiệt hại về sức khỏe của ông Lý S, bà Sơn Thị C, bà Thạch Thị Tuyết S đã được anh Đoàn Thanh N, ông Nguyễn Vinh H hỗ trợ, bồi thường xong. Trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án gia đình bị cáo đã tự nguyện, thỏa thuận bồi thường thiệt hại về trách nhiệm dân sự cho ông Lý S xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng đã xử lý xong như đã nêu trên, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Riêng đối với 01 xe đạp của bị cáo là tài sản hợp pháp của bị cáo, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng và giải quyết bồi thường thiệt hại về tránh nhiệm dân sự của vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng đối với mức hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc lại như đã nhận định, phân tích nêu trên.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 333 và Điều 338 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm “Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Xử phạt bị cáo Lê Văn D 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 12 năm 2022.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự: Đã thỏa thuận, bồi thường xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về xử lý vật chứng: Giao trả cho bị cáo Lê Văn D 01 chiếc xe đạp loại xe đầm màu nâu, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho cùng ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).
4. Về án phí: Bị cáo Lê Văn D là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
5. Báo cho bị cáo, những người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Đối với những người vắng mặt nêu trên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố Sóc Trăng; - Công an thành phố Sóc Trăng; - CQTHAHS – Công an thành phố Sóc Trăng; - Chi cục THA Dân sự thành phố Sóc Trăng; - Bị cáo; - Những người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA Kim Sa Pha |