vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Quàng Văn C

Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn C - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Quàng Văn C
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HS-ST
Ngày 12-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thu Anh - Cán bộ nghỉ hưu.

2. Bà Lê Thanh Nhàn - Cán bộ nghỉ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thanh Hương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Quàng Văn C (tên gọi khác: không); sinh ngày: 05/5/1991, tại Thuận Châu, Sơn La; giới tính: nam; nơi thường trú: bản T, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện tại: khu T, phường T, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Quàng Văn K và bà Lò Thị C; anh, chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 23/8/2016, Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 02/11/2018, Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 27/12/2019 chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 22/9/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn C: Ông Hoàng Thanh T - luật sư Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ninh. Văng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lò Văn M, sinh năm 2001, địa chỉ: khu Tràng Lộ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người chứng kiến: ông Trần Mạnh H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, Tổ công tác của Công an phường Trà Cổ phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Móng Cái làm nhiệm tuần tra ở khu Tràng Lộ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, phát hiện Quàng Văn C đang đi cùng Lò Văn M (sinh năm 2001, trú tại Bản Lạn S, xã N, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La) có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Thấy vậy, Quàng Văn C thả từ trên tay phải xuống vỉa hè nơi C đang đứng 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói giấy chứa chất bột màu nâu nghi là ma túy nhưng bị Tổ công tác phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của C: 01 túi nilon kích thước (04x06)cm, bên trong có 01 gói giấy chứa chất bột màu nâu dạng cục. Tạm giữ của Mạnh: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 lắp 02 sim số 0349302389 và 0984391612.

Tại bản Kết luận giám định số 1616/KL-KTHS ngày 30/9/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Quàng Văn C gửi giám định là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng: 0,164 gam (không phẩy một sáu bốn gam).

Quá trình điều tra, Quàng Văn C khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên tối ngày 22/9/2022, C rủ Lò Văn Mạnh đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau đó, Mạnh đã dùng điện thoại di động của Mạnh gọi điện thoại cho người bán ma túy hỏi mua, rồi C cùng Mạnh đi đến khu Tràng Lộ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, gặp người thanh niên bán ma túy. C trực tiếp gặp và mua của người thanh niên 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Sau khi mua, C cầm túi nilon đựng gói ma tuý ở tay và cùng M đi về, thì bị kiểm tra bắt giữ.

Tuy nhiên, Lò Văn M không thừa nhận việc biết và tham gia cùng C đi mua ma tuý về sử dụng. Trước thời điểm bị bắt, C có mượn điện thoại của Mạnh để gọi nhưng Mạnh không biết C liên lạc để hỏi mua ma tuý.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS-MC, ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố Quàng Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn C khai nhận đã thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng.

* Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Quàng Văn C từ 15 (mươi lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 22/9/2022.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.

+ Trả lại Lò Văn M: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu tím, đã qua sử dụng.

- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn C.

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Quàng Văn C có bản bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, địa phương nơi bị cáo sống là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị

cáo.

s

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội, về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, bản ảnh, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định, cùng toàn bộ tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, tại khu Tràng Lộ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, Quàng Văn C có hành vi cất giấu trái phép 0,164 gam (không phẩy một sáu bốn gam) Heroine để sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Quàng Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Quàng Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho tệ nạn ma túy phát triển gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, bản thân Quàng Văn C đã hai lần bị xử lý trước pháp luật nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân đối với bị cáo cần được đưa bị cáo ra xét xử công khai, xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời tuyên truyền phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không áp dụng đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời xét hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, địa phương nơi bị cáo sống là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có việc làm và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng gồm:

- 0,11 gam ma túy Heroin hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1616/KL-KTHS ngày 30/9/2022 là vật nhà nước cấm cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu tím, số IMEI 1: 869885049417983. Số IMEI 2: 869885049417920, bên trong lắp 02 sim số: 0349.302.389 và 0984.391.612. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong, vật chứng của Lò Văn Mạnh không biết bị cáo sử dụng dùng vào việc phạm tội, cần trả lại Lò Văn Mạnh.

[ 8] Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quyết định 861/QĐTT-TTg ngày 04/6/2021 của thủ tướng chính phủ; tại phiên tòa bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án có người thanh niên đã bán ma túy cho C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Lò Văn Mạnh, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận Mạnh đồng phạm với Quàng Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Quàng Văn C

Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Quàng Văn C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 22/9/2022.

2.Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi: “Phòng kỹ thuật hình sự Đội giám định số 1616/KL-KTHS mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 1616 ngày 30/9/2022 Vụ: Quàng Văn C”

- Trả lại Lò Văn M 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu tím, số IMEI 1: 869885049417983. Số IMEI 2: 869885049417920, bên trong lắp 02 sim số: 0349.302.389 và 0984.391.612.

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số:43/2023/THA ngày 30/12 /2022, tại Chi cục Thi hành án Dân sự, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.)

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn C.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Quàng Văn C; vắng mặt người bào chữa cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ