vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Văn Thuc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:06/2023/HS-ST
Ngày 12-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa

Ông Huỳnh Thanh Trà

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN TH, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 30/4/1999 tại thành phố Đà Nẵng.

Nơi ĐKHKTT: Không có.

Chỗ ở hiện nay: K20/H11/30 đường H, phường A, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 8/12.

Nghề nghiệp: Lao động phổ thông.

Con ông: Nguyễn Thanh Nh (mất) và bà Trần Thị T (sinh năm 1975). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/8/2022; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị Kim L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ 41, phường T1, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 27.8.2022, Nguyễn Văn Th sử dụng ứng dụng Telegram liên hệ với H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua hộp 10 ma túy đá với giá 6.000.000 đồng. Sau đó, H1 đặt giao hàng công nghệ giao ma túy cho Th tại phòng trọ địa chỉ K20/H11/30 đường H, phường A, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Th thanh toán tiền cho người giao. Ngày 28.8.2022, tại phòng trọ Th lấy một ít ma túy sử dụng rồi cất giấu trong tủ nhựa phòng ngủ.

Khoảng 19 giờ ngày 29.8.2022, Th tiếp tục lấy một ít ma túy bỏ trong hộp thuốc lá caraven để trong túi quần trái phía trước, dự định sau khi chở Huỳnh Thị M (sinh năm: 2001; trú: K20/H11/30 đường Hà Thị Thân, phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng; bạn gái Th) đi ăn sẽ tìm nơi sử dụng. Sau đó, khi Th đang điều khiển xe môtô biển số 43D1-183.60 chở Minh đến trước nhà số 69 đường L, phường B, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang Th đang tàng trữ trái phép chất ma túy.

Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn Th tại phòng trọ địa chỉ K20/H11/30 đường H, phường A, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phát hiện, thu giữ trong tủ nhựa ở phòng ngủ có: 01 gói nilông bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma tuý.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 vỏ thuốc lá hiệu Caraven, bên trong có 01 gói nilông kích thước (2,5x3cm) chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong, ký hiệu C;

+ 01 gói nilông kích thước (8,5x5)cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong, ký hiệu C1;

+ 01 điện thoại di động có dòng chữ POCO, gắn sim 0777.568.863, số imei: 861411057896547, Th sử dụng để liên lạc mua ma túy;

+ 01 xe môtô hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển số 43D1-183.60, số khung: RLHJF2709BY339643; số máy : JF27E-1397163.

Theo kết luận giám định số 191/KLMT-KTHS ngày 06.9.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu C, C1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu C: 0,459 gam; mẫu C1: 6,222 gam. Hoàn lại đối tượng giám định gồm 0,251 gam mẫu C; 5,312 gam mẫu C1 và toàn bộ vỏ bao gói.

Kết quả xét nghiệm, Nguyễn Văn Th dương tính với ma túy đá; Huỳnh Thị M âm tính.

Kết quả điều tra, Nguyễn Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai nhận của Th phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người chứng kiến; vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th mức án từ 6 (sáu) năm đến 7 (bảy) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe môtô biển số 43D1-183.60: do bà Đào Thị Kim L đứng tên chủ sở hữu. Tháng 5 năm 2022, bà Liên cho Th mượn để đi làm, bà Liên không biết việc Th tàng trữ ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu trả xe cho bà L là phù hợp.

- Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu toàn bộ vật chứng thu giữ còn lại để bảo quản trong giai đoạn xét xử.

Ngoài ra, Th còn khai nhận cuối tháng 6 năm 2022, Th có mua 6.000.000 đồng ma túy đá của H1 để sử dụng. Tuy nhiên, kết quả điều tra không thu giữ được chất ma túy, không xác định được H1, không có tài liệu, chứng cứ khác. Chỉ có duy nhất lời khai nhận tội duy nhất của Th nên căn cứ khoản 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự không đủ cơ sở để kết luận, xử lý đối với Nguyễn Văn Th ở lần tàng trữ trái phép chất ma tuý này.

Huỳnh Thị M là bạn gái, cùng đi với Th. M không biết việc Th cất giấu ma túy trong túi quần và trong tủ nhựa tại phòng trọ địa chỉ K20/H11/30 đường H, phường A, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên ngày 27.8.2022, Nguyễn Văn Th liên hệ với H1 qua ứng dụng Telegram để mua 6.000.000 đồng ma túy đá. Th sử dụng một ít tại phòng trọ, rồi cất giấu trong tủ quần áo. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29.8.2022, Th lấy ra một ít ma tuý cất giấu trong túi quần, dự định tìm nơi để sử dụng, khi Th đang đi đến trước nhà số 69 đường L, phường B, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thì bị phát hiện, bắt quả tang Th đang tàng trữ trái phép 0,459 gam ma túy Methamphetamine. Khám xét tại chỗ ở của Th, thu giữ trong tủ quần áo 6,222 gam ma túy Methamphetamine. Vậy, tổng khối lượng ma túy Methamphetamine Th tàng trữ là 6,681 gam.

Hành vi của Nguyễn Văn Th là mua ma túy về sử dụng cho bản thân, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy nên cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Bị cáo là người trưởng thành, là những thanh niên có sức khỏe, đang trong độ tuổi lao động, đáng lẽ ra các bị cáo phải ý thức được mình nên làm những gì để có ích cho gia đình. Bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt nhưng không lấy đó để tiếp tục làm công dân tốt mà đi vào con đường phạm tội, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Riêng về ma túy Nhà nước đã có chính sách quản lý độc quyền nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo phải bị xử phạt, cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với các vật chứng là ma túy hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 191/KLMT-KTHS, ngày 06 tháng 9 năm 2022 có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động có dòng chữ POCO, gắn sim 0777.568.863, số imei: 861411057896547 là điện thoại của bị cáo Th dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (một) vỏ thuốc lá hiệu Caraven không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 xe môtô biển số 43D1-183.60: do bà Đào Thị Kim Liên đứng tên chủ sở hữu. Tháng 5 năm 2022, bà Liên cho Th mượn để đi làm, bà Liên không biết việc Th tàng trữ ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu trả xe cho bà Liên là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

I. Tuyên bố Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/8/2022.

II. Xử lý vật chứng:

1. Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: Ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01(một) bì niêm phong số 119/GĐ-MT, ngày 06 tháng 9 năm 2022 có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và 01 (một) vỏ thuốc lá hiệu Caraven;

2. Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động có dòng chữ POCO, gắn sim 0777.568.863, số imei: 861411057896547 của bị cáo Th.

Các vật chứng nói trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng hiện đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 12 năm 2022.

III. Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000đ.

IV. Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Cỡ chữ