- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự xét xử bị cáo Phạm Trọng Ng phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày 15-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thoan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lại Văn Cán
2. Bà Dương Thị Lanh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia
phiên tòa: Bà Doãn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Trọng Ng, sinh ngày 08 tháng 6 năm 1996 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Phạm Xuân Th (đã chết) và bà: Trần Thị Ng; chưa có vợ, con; nhân thân: Quyết định số 73/2017/QĐ-TA ngày 10 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Trọng Ng thời gian 18 tháng, chấp hành xong ngày 03 tháng 4 năm 2019; tiền án: Bản án số 29/2020/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Trọng Ng 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10 tháng 5 năm 2022; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 07 tháng 10 năm 2022 đến ngày 13 tháng 10 năm 2022 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. Có mặt
- Người chứng kiến:
1. Ông Đặng Văn V, sinh năm 1956;
2. Ông Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1962;
Đều cư trú tại: Thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Thái Bình.
(Ông V, ông Đ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 07 tháng 10 năm 2022, Phạm Trọng Ng điều khiển xe mô tô Yamaha, nhãn hiệu Exciter, biển số đăng ký 90B2-281.99 đi từ tỉnh Hà Nam đến đê Q thuộc xã M, huyện L, tỉnh Nam Định gặp và hỏi mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ đứng ở vệ đê 01 gói nhỏ ma túy được gói bằng nilon màu hồng với giá 100.000 đồng, mục để sử dụng cho bản thân. Ng không mở ra kiểm tra mà cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi quấn dài phía sau bên phải đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Ng đi đến đường liên thôn thuộc thôn Thượng Điền, xã Tam Quang, huyện V, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Thái Bình yêu cầu cho kiểm tra. Tổ công tác mời người dân chứng kiến, tiến hành kiểm tra và thu giữ tại túi quần dài phía sau bên phải Ng đang mặc 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng nilon màu hồng, bên trong gói bằng giấy tráng kim màu vàng, trong cùng chứa chất bột màu trắng, dạng cục. Ng khai nhận là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân, kiểm tra xe mô tô biển số 90B2-281.99 không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã dẫn giải Ng đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng; quản lý tài sản của Ng 01 xe mô tô.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Kết luận giám định số 397/KL-KTHS(MT) ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1236 gam (không phẩy một nghìn hai trăm ba mươi sáu gam). Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ”.
Cáo trạng số 04/CT-VKSVT ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Phạm Trọng Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trọng Ng từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,0839 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định trong phong bì số 397/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, với hành vi cáo trạng đã mô tả và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 07 tháng 10 năm 2022, tại đường liên thôn thuộc thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang Phạm Trọng Ng có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin, có khối lượng 0,1236 gam tại túi quần dài phía sau bên phải đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…..
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Trong những năm gần đây, tình hình tệ nạn ma túy đã và đang trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Ma túy gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Đặc biệt, ma túy còn là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm thể hiện sự coi thường pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào năm 2017.
Bị cáo bị kết án vào năm 2020, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập không ổn định; bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng và không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, tài sản thu giữ:
Đối với 0,0839 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì số 397/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ cần tịch thu để tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, nhãn hiệu Exciter màu xám đen, biển số đăng ký 90B2-281.99 mang tên chị Phạm Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, chị L đã bán chiếc xe trên cho anh Lê Văn A, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn x, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam, có hợp đồng mua bán xe đã công chứng. Anh Lê Văn A cho cháu ruột là anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn x, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam mượn làm phương tiện đi lại. Ngày 07 tháng 10 năm 2022, anh Q cho Ng mượn xe mô tô này để về quê. Anh A và anh Q đều không biết việc Ng mượn xe mô tô để mua ma túy về sử dụng. Ngày 23 tháng 12 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Lê Văn A. Việc trả lại xe là phù hợp với quy định pháp luật tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về vấn đề khác trong vụ án: Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực Q, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trọng Ng 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 10 năm 2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Trọng Ng.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,0839 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì số 397/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 13 tháng 01 năm 2023 và Phiếu nhập kho đề ngày 13 tháng 01 năm 2023).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Trọng Ng phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phạm Trọng Ng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15 tháng 02 năm 2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện V; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái Bình; - Lưu HS, HCTP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |