vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A T - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HS-ST
Ngày 27-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: ông Sùng A Dinh và bà Lò Thị Dậu

- Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2023/TLST-HS ngày 13/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 16/11/2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Hạng A T - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 2004 tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: thôn D, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Hạng A C (sinh năm: 1981) và bà Thào Thị D (sinh năm 1982); Vợ: Giàng Thị M (sinh năm 2005), bị cáo có 01 con sinh năm 2023; Tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 30/7/2023 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật (Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 30/7/2023 của Công an huyện T), bị cáo chấp hành xong ngày 18/6/2023, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Chức vụ đảng, chính quyền: không; Nhân thân: bị cáo chưa bị Tòa án xét xử lần nào. Tạm giữ: không; Tạm giam: từ ngày 11/10/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Hạng A C, sinh năm 1981. Nơi cư trú: thôn D, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/5/2023, bị cáo Hạng A T có hành vi tàng trữ trái phép 28 lóng gỗ nghiến dạng thớt (thuộc nhóm IIA) có khối lượng 0,107 m3 và bị Công an huyện T phát hiện lập biên bản vi phạm; Đến ngày 30/7/2023 Công an huyện ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hạng A T về hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật, phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng, Hạng A T đã thi hành xong ngày 16/8/2023.

Đến khoảng 18 giờ ngày 27/8/2023, bị cáo đi lên khu vực Chua Đơ thuộc bản Hột, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên, tại đây bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ và mua được của người này 14 lóng gỗ nghiến đẽo tròn dạng thớt, trong đó có 07 lóng có đường kính 40 cm; 05 lóng có đường kính 30 cm; 02 lóng có đường kính 35 cm, tất cả đều có độ dài 5,5 cm. Tổng số tiền bị cáo dùng mua thớt nghiến là 1.000.000 đồng. Sau khi mua được thớt nghiến bị cáo cất giấu tại lán nương bỏ hoang gần đó. Đến ngày 28/8/2023, bị cáo cho 14 lóng gỗ vào 02 bao tải rồi chở số gỗ trên để đi bán tại đèo Pha Đin, huyện Tuần Giáo; khi bị cáo đi đến đoạn đường thuộc thôn Phiêng Bung, xã Mường Báng, huyện T thì bị Công an huyện phát hiện thu giữ 14 lóng gỗ nghiến dạng thớt, 01 xe mô tô. Toàn bộ số gỗ thu giữ trên bị cáo không có hồ sơ lâm sản.

Thu giữ và xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra:

- 14 lóng gỗ nghiến có khối lượng 0,072m3.

- 01 chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, biển kiểm soát 27B2-000-78.

Tại biên bản kiểm tra lâm sản, bảng kê lâm sản xác định: 14 lóng gỗ thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,072 m3.

Tại Kết luận giám định số 545/CNR-VP ngày 08/9/2023 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam giám định các mẫu gỗ thu giữ do Công an huyện T cung cấp kết luận: mẫu vật gửi giám định là gỗ Nghiến; được xếp vào nhóm IIA trong danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ, gỗ nghiến được xếp nhóm II trong "Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước" ban hành kèm theo quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ Lâm nghiệp (nay là bộ Nông nghiệp- phát triển nông thôn).

Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hạng A C là chủ sở hữu chiếc xe mô tô trình bày cho bị cáo mượn xe để đi lại và không biết việc bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật, do đó Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp.

Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSHTC ngày 13/11/2023 của VKSND huyện T đã truy tố bị cáo Hạng A T về tội "vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" theo điểm m khoản 1 điều 232 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm m khoản 1 điều 232; các điểm i,s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, đề nghị áp dụng thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 điều 232 của Bộ luật hình sự; tịch thu sung ngân sách nhà nước toàn bộ số gỗ thu giữ của bị cáo và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi như cáo trạng truy tố, Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo

Qua lời khai của bị cáo và các chứng cứ được làm rõ tại phiên tòa đã xác định được:

Bị cáo Hạng A T vì muốn có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân nên ngày 27/8/2023 bị cáo đã mua 14 lóng gỗ nghiến dạng thớt nhằm mục đích bán lại kiếm lời, đến ngày 28/8/2023 bị cáo mượn xe mô tô của ông Hạng A C trở gỗ đi bán thì bị công an bắt giữ; số lượng 14 lóng gỗ nghiến đẽo tròn thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,072m3 (quy thành gỗ tròn là 0,115m3) thuộc nhóm IIA, nằm trong danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa và phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng cơ quan điều tra đã thu giữ được; phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án như biên bản vi phạm hành chính, biên bản tạm giữ tang vật phương tiện, bảng kê lâm sản, biên bản xác định khối lượng tang vật vi phạm, kết luận giám định số 545/CNR-VP ngày 08/9/2023 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam…

Như vậy có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã có hành vi mua gỗ nghiến với mục đích để bán trái phép 14 lóng gỗ nghiến đẽo tròn có khối lượng 0,072m3 (quy thành gỗ tròn là 0,115m3) thuộc nhóm IIA nằm trong danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, số gỗ bị cáo mua và bán không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc là trái với quy định về quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản.

Trước đó, ngày 30/7/2023 bị cáo đã bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000đ, bị cáo đã nộp xong ngày 16/8/2023, tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi mua và vận chuyển 14 lóng gỗ nghiến chưa đủ 01 năm nên bị cáo chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính.

Do đó, hành vi bị cáo mua và vận chuyển 14 lóng gỗ nghiến trái phép với mục đích để bán kiếm lời trong thời gian chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật đã phạm vào tội "vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" được quy định tại điểm m khoản 1 điều 232 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Xét tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào các quy định của nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng mà trực tiếp là hành vi mua và bán lâm sản trái pháp luật. Do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục, ngăn ngừa tội phạm và bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 của BLHS cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điều 52 của BLHS.

Về nhân thân, ngày 30/7/2023 bị cáo bị Công an huyện xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên tình tiết đã bị xử phạt vi phạm hành chính của bị cáo đã được sử dụng làm dấu hiệu để định tội theo điểm m khoản 1 điều 232 của Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, khối lượng lâm sản thu giữ của bị cáo 0,072m3 là không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; Bị cáo cùng vợ, con sống chung cùng bố mẹ, bị cáo có 01 con còn nhỏ (sinh năm 2023).

Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo còn trẻ có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách để gia đình và chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. [4] Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 điều 232 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Về các vấn đề có liên quan:

Đối với người bán gỗ nghiến cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa không làm rõ được họ tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét xử lý. [6] Về vật chứng:

+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, hiệu Exceter, biển kiểm soát 27B2-000.78 đã làm rõ thuộc sở hữu của anh Hạng A C, anh C không biết việc bị cáo mượn xe để vận chuyển gỗ, do đó Cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

+ 14 lóng gỗ nghiến là vật chứng thu giữ của bị cáo cần tịch thu sung ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [7] Về án phí:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo (Giấy chứng nhận số 251/GCN-HN.HCN ngày 03/01/2022 của UBND xã M) nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. [8] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm m khoản 1 điều 232 của Bộ luật hình sự 1. Tuyên bố: Bị cáo Hạng A T phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

Áp dụng điểm m khoản 1 điều 232, các điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1, khoản 2 điều 65 của Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Hạng A T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/11/2023).

Áp dụng khoản 4 điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Hạng A T ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 điều 106 của BLTTHS

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số gỗ thu giữ của bị cáo: 14 lóng gỗ nghiến đẽo tròn dạng thớt có tổng khối lượng 0,072 m3.

(số vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra công an huyện T và Chi cục Thi Hành án dân sự huyện T) 3. Án phí: Áp dụng điều 136 của BLTTHS; điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 4. Kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/11/2023). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết .

Cỡ chữ