- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lò Văn S , phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày: 14- 11- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Dương Ngọc Tam.
"""""""""Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Vừ Vả Chứ, bà Cầm Thị Quyến
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. """""""""-"Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà:" Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST- HS ngày 27 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07 /QĐXXST- HS ngày 02/11/2023 đối với bị cáo:
Lò Văn S, tên gọi khác: Không, giới tính: Nam, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1979, tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã S , huyện S , tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 01407900 ; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng viên: Không; con ông: Lò Văn L (đã chết); con bà Lò Thị T (đã chết); vợ là: Vì Thị D, sinh năm 1980, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ Ngày 10/8/2023, Lò Văn S mua được 04 viên ma túy tổng hợp với số tiền 80.000 đồng của một người không quen biết, mua được ma túy S đem về nhà cất giấu, đến khoảng 21 giờ cùng ngày S đem ra sử dụng hết 01 viên, còn lại 03 viên, S gói lại để trước mặt thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 01 gói nilon màu xanh chứa 03 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp.
Ngày 11/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp thành lập Hội đồng, mở niêm phong, cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định, vật chứng là 03 viên hồng thu giữ của S có khối lượng 0,31 gam, đã sử dụng 02 viên có khối lượng 0,20 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu S, 01 viên còn lại có khối lượng 0,11 gam ký hiệu S1 lưu kho.
Bản kết luận số 1993/KL- KTHS ngày 12/8/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu S là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,20 gam loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 64/CT-VKSSC ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Lò Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo S thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, không khai báo gì thêm.
Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị xử phạt bị cáo từ 17 đến 22 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp đã được niêm phong kín, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh đựng ban đầu, 01 túi nilon màu trắng chứa 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,11 gam, 01 bật lửa ga màu trắng, 01 mẩu giấy bạc.
Về nguồn gốc 03 viên nén là ma túy có khối lượng 0,31 gam loại Methamphetamine, ngoài lời khai của bị cáo S không còn căn cứ khác chứng minh, nên không xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn S nhất trí với nội dung Cáo trạng, với luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 10/8/2023 Lò Văn S đã Tàng trữ 0,31 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh như: Biên bản bắt người phạm tội
2 quả tang hồi 21 giờ 20 phút ngày 10 tháng 8 năm 2023; Biên bản niêm phong, cân tịnh vật chứng ngày 11/8/2023, kết luận giám định số 1993 ngày 12/8/2023, lời khai của người chứng kiến, vật chứng của vụ án là 0,31 gam ma túy, loại Methamphetamine, lời khai nhận của bị cáo.
Từ các căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp đã truy tố đối với bị cáo S là có căn cứ.
Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo Lò Văn S đã Tàng trữ trái phép 0,31 gam ma túy là nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó đã gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách thống của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người sử dụng chất ma túy, đã có 01 tiền án về tội ma túy, nhưng đã được xóa án tích.
Tình tiết tăng nặng: Không có
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, do coi thường pháp luật nên đã phạm tội; Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ; Hội đồng xét xử xét, xét đề nghị về hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp và cần phải phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.
Bị cáo Lò Văn S đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy thời gian tạm giam còn dưới 45 ngày, cần ra Quyết định tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt bổ sung; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành, nên không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại là 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong chứa 01 vỏ phong bì đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh đựng ma túy ban đầu, 01 túi ni lon màu trắng chứa 01 viên nén hình trụ màu hồng có khối lượng 0,11 gam, ký hiệu S1; 01 bật lửa ga màu trắng, 01 mẩu giấy bạc, là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo; Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự .
Vì"các"lẽ"trên,"
3
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lò Văn S , phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn S 19 (Mười chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (11/8/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh đựng ban đầu, 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên nén hình trụ màu hồng có khối lượng 0,11 gam, ký hiệu S1; 01 bật lửa ga màu trắng, 01 mẩu giấy bạc đã qua sử dụng; Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/10/2023 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
4. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Lò Văn Sương không phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 14/11/2023. ""Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sốp Cộp; - Công an huyện Sốp Cộp; - Thi hành HS; - Trại giam Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Thi HADS huyện Sốp Cộp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Ngọc Tam 4 5 |