- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Tàng trữ Trái phép Chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày: 31/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Diễn;
2. Ông Vũ Văn Sâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị vân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh ngày 26/4/1982 tại huyện M, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn (D) L, sinh năm 1953 và bà: Mai Thị T, sinh năm 1955; vợ: Hoàng Thị Việt Tr, sinh năm 1989, đã ly hôn; con: 01 con, sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Quyết định số 913/QĐ-UBND ngày 4/7/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông đưa vào chữa trị cai nghiện tại Trường giáo dục đào tạo và giải quyết việc làm số 01 thuộc lực lượng thanh niên xung phong Hồ Chí Minh, chấp hành xong quyết định ngày 09/8/2012. Bản án số 45/2016/HSST ngày 28/7/2016, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, tổng hợp hình phạt 01 năm 09 tháng tù, chấp hành xong bản án ngày 09/8/2017.
Bị tạm giữ từ ngày 11/10/2022 đến ngày 14/10/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).
- Người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Trú Tại: tổ X, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
+ Ông Trần Văn Th, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Trú Tại: tổ 5, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ ngày 11/10/2022, tổ công tác Công an huyện Quỳnh Phụ phối hợp cùng Công an thị trấn Q làm nhiệm vụ tại đường tổ 2, thị trấn Q, huyện Q, phát hiện Nguyễn Văn N đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu đứng lại. Lúc này, Nam thả 02 gói nhỏ có vỏ ngoài là giấy tráng kim màu trắng bạc giấu trong lòng bàn tay trái xuống đường, tổ công tác yêu cầu Nam nhặt lên và cho vào túi quần trước bên phải về trụ sở Công an thị trấn Q, huyện Q làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971, trú tại: tổ 02, thị trấn Q, huyện Q và ông Trần Văn Th, sinh năm 1962, trú tại: tổ 05, thị trấn Q, huyện Q, tổ công tác kiểm tra, thu tại túi quần trước bên phải Nam mặc 02 gói nhỏ có vỏ ngoài là giấy tráng kim màu trắng bạc, trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Nam khai là 02 gói ma túy, loại Heroine, để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý niêm phong gói vật chứng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn N tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, không phát hiện, thu giữ đồ vật có liên quan đến ma túy.
Kết luận giám định số 401/KL-KTHS(MT) ngày 12/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1833 gam (không phẩy một nghìn tám trăm ba mươi ba gam). Heroin STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận: Do nghiện ma túy (loại Heroine) nên khoảng 08 giờ 45 phút ngày 11/10/2022, N đi bộ từ nhà đi đến khu 2 thị trấn Q, huyện Q tìm mua ma túy sử dụng. Tới ngõ nhỏ gần khu vực bờ sông tổ 2, thị trấn Q, huyện Q, N mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 02 gói ma túy vỏ ngoài là giấy tráng kim màu trắng bạc với số tiền 200.000 đồng. N giấu các gói ma túy trong lòng bàn tay trái đang đi bộ tìm chỗ vắng sử dụng thì gặp tổ công tác Công an huyện Q yêu cầu đứng lại kiểm tra. Do hoảng sợ, N đã thả 02 gói ma túy xuống đường (cạnh vị trí đứng) bị tổ công tác phát hiện, yêu cầu nhặt lên cho vào túi quấn trước bên phải về trụ sở Công an thị trấn Q làm việc. Tại đây, trước sự có mặt của những người chứng kiến tổ công tác đã kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong các gói vật chứng.
Cáo trạng số 10/CT-VKSQP ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn N và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sựxử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh phụ, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án (bút lục số 65-78); phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 09 giờ 15 phút, 10 giờ 45 phút, 10 giờ 55 phút, cùng ngày 11/10/2022, tại trụ sở Công an thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 01 - 02; 04; 05); Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 15 giờ 05 phút ngày 11/10/2022 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 07); Phiếu xét nghiệm test nhanh Morphin/Heroin ngày 11/10/2022 của Trung tâm y tế huyện Quỳnh Phụ, xác định: Nguyễn Văn N dương tính với Morphin/Heroin (bút lục số 35); Bản tường trình và biên bản ghi lời khai của người chứng kiến Nguyễn Văn H và Trần Văn Th (bút lục số 79 - 83; 84 - 88); Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 09 giờ ngày 11/10/2022, tại đường tổ 2, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn N có hành vi giấu trái phép ở lòng bàn tay trái 02 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1833 gam để sử dụng cho bản thân, bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ các gói vật chứng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:
“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248,250,251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR
- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Tệ nạn ma tuý hiện nay đang là hiểm hoạ của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã từng bị đưa vào chữa trị cai nghiện tại Trường giáo dục đào tạo và giải quyết việc làm số 01 thuộc lực lượng thanh niên xung phong Hồ Chí Minh; xử phạt tù về các tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, nhận thức rất rõ tác hại của ma túy song vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, Quyết định số 913/QĐ-UBND ngày 4/7/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông đưa vào chữa trị cai nghiện tại Trường giáo dục đào tạo và giải quyết việc làm số 01 thuộc lực lượng thanh niên xung phong Hồ Chí Minh. Bản án số 45/2016/HSST ngày 28/7/20216, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, tổng hợp hình phạt 01 năm 09 tháng tù.
Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Chất ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn N hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc các gói Heroine, bị cáo Nguyễn Văn N khai mua của người đàn ông khoảng 35 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đường bờ sông tổ 2, thị trấn Q, huyện Q nên không đủ cơ sở để điều tra, xử lý là có căn cứ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (Sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/10/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,1404 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm linh bốn gam) Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì niêm phong số 401/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.
(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 25 ngày 09/01/2023 giữa Công an huyện Quỳnh Phụ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/01/2023). Nơi nhận:
| - Bị cáo; - VKSND huyệnQuỳnh Phụ;VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Quỳnh Phụ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ; - TAND tỉnh Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Doanh |