vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;…

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần C vi phạm quy định về giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HS-ST
Ngày 22/02/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Ông Phạm Xuân Hào.

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần C, sinh ngày 05 tháng 4 năm 1998 tại Bình Phước; nơi thường trú: Ấp 3, xã A K, huyện Q, tỉnh BP; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H , sinh năm 1971 và bà Thị H , sinh năm 1975; bị cáo có vợ Thị T, sinh năm 2001, có 01 người con sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoạị, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn 8, xã L, huyện P, tỉnh BP (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1/ Bà Lê Thị H , sinh năm 1946 (mẹ của bị hại); nơi cư trú: Thôn Thống Nhất 2, xã X, huyện Th, tỉnh T

2/ Ông Nguyễn Trọng C , sinh năm 2001 (con của bị hại); nơi cư trú: Thôn 8, xã L, huyện P, tỉnh BP.

3/ Bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1999 (con của bị hại); nơi cư trú: Thôn 8, xã L, huyện P, tỉnh BP.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hiên, bà Liên: Ông Nguyễn Trọng C, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn 8, xã L, huyện P, tỉnh BP. Có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty D; địa chỉ: 56 Trần Hưng Đạo, khu phố Đông A, phường Đ, thành phố D, tỉnh B. Đại diện theo pháp luật: Bà Đào HD – Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền của bà D: Bà Nguyễn Thị K S, sinh năm 1970; nơi cư trú: Khu phố 6, thị trấn V, huyện P, tỉnh B. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16/7/2022, bị cáo Trần C điều khiển xe ô tô tải biển số 61H-016.15 lưu thông trên đường ĐT 741 theo hướng từ tỉnh Bình Dương đi tỉnh Bình Phước trên làn đường dành cho ô tô tải. Khi đến đoạn đường giao nhau giữa đường ĐT 741 với với đường ĐH 502 (ngã ba Cây Khô) thuộc ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Trần C điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải vào đường ĐH 502 không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát nên không thấy xe mô tô do ông Nguyễn Trọng C điều khiển chở theo bà Lê Thị Đ trên làn đường dành cho xe mô tô nên trục bánh trước thứ nhất bên phải của xe ô tô do bị cáo điều khiển va chạm vào hông xe mô tô do ông Nguyễn Trọng C điều khiển làm cho xe mô tô, ông Nguyễn Trọng C, bà Lê Thị Đ bị ngã và cuốn vào gầm xe ô tô. Tai nạn xảy ra làm bà Lê Thị Đ chết tại hiện trường, ông Nguyễn Trọng C bị xây xát nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ:

- 01 (một) xe ô tô tải biển số 61H-016.15, nhãn hiệu Isuzu, sơn màu trắng; 01 giấy kiểm định số KD 5497961 của Công ty D;

- 01 (một) xe mô tô biển số 36M1-209.06 nhãn hiệu Honda-Vision do bà Lê Thị Đ làm chủ sở hữu;

- 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô số 700214002426 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp ngày 28/4/2021, có giá trị đến ngày 28/4/2026 mang tên Trần C .

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 720/PC09-GĐPY ngày 21/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

Dấu hiệu chính của giám định: Bên ngoài nhiều vết sây sát da, tụ máu; vỡ biến dạng xương sọ có nhiều mảnh xương rời; mô não dập, rách, thoát gần hết ra ngoài; gãy xương sống mũi; vỡ xương gò má hai bên; gãy xương hàm bên dưới hai bên. Nguyên nhân chết của nạn nhân Lê Thị Đ là do đa chấn thương.

Bản kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 36M1-209.06 là 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 111/CT-VKSPG ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần C từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba sáu) tháng. Hình phạt bổ sung: Không.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô số 700214002426 hạng C do Sở giao thông vậ tải tỉnh Bình Phước cấp ngày 28/4/2021, có giá trị đến ngày 28/4/2026 mang tên Trần C .

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

Trong phần tranh luận, bị cáo Trần C cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

Trong lời nói sau cùng của bị cáo Trần C: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Đại diện của bị hại ông Nguyễn Trọng C, đại diện bị đơn dân sự bà Nguyễn Thị K S có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố ông Công, bà S đã cung cấp lời khai và không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trọng C và bà Nguyễn Thị K S.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần C trình bày: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16/7/2022, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 61H-016.15 lưu thông trên đường ĐT 741 theo hướng từ tỉnh Bình Dương đi tỉnh Bình Phước trên làn đường dành cho ô tô tải. Khi đến đoạn đường giao nhau giữa đường ĐT 741 với với đường ĐH 502 (ngã ba Cây Khô) thuộc ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải vào đường ĐH 502 không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát nên va chạm vào hông xe mô tô do ông Nguyễn Trọng C điều khiển làm cho xe mô tô, ông Nguyễn Trọng C , bà Lê Thị Đ bị ngã và cuốn vào gầm xe ô tô. Tai nạn xảy ra làm bà Lê Thị Đ chết tại hiện trường, ông Nguyễn Trọng C bị xây xát nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Bị cáo Trần C được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, khi chuyển hướng xe không đúng quy định gây tai nạn giao thông làm bị hại bà Lê Thị Đ tử vong đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, Cáo trạng số 111/CT-VKSPG ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Dù không mong muốn hậu quả xảy ra, nhưng hành vi của bị cáo chính là nguyên nhân dẫn đến cái chết bị hại. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại và có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo Trần C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo là lao động chính trong gia đình...Ngoài ra, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên HĐXX quyết định cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo, khuyến khích bị cáo tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội.

Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với hành vi, tính chất, tình tiết của vụ án và có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, nhân thân của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần C cùng Công ty D (gọi tắt là Công ty) đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị Đ số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), trong đó bị cáo Công bồi thường 20.000.000đ, Công ty bồi thường 80.000.000đ. Ông Nguyễn Trọng C đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị Đ đã nhận số tiền trên và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Công ty D không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với thiệt hại xe ô tô biển số 61H-016.15 và không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền Công ty đã hỗ trợ bị cáo bồi thường cho đại diện gia đình bị hại Lê Thị Đ nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 (một) xe ô tô tải biển số 61H-016.15 nhãn hiệu Isuzu, sơn màu trắng; 01 giấy kiểm định số KD 5497961 của Công ty D; bị cáo C làm tài xế lái thuê cho Công ty. Ngày 01/8/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô tải và 01 giấy kiểm định số KD 5497961 cho Công ty, bà Nguyễn Thị K S là đại diện theo ủy quyền của Công ty đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 (một) xe mô tô biển số 36M1-209.06 nhãn hiệu Honda-Vision do bà Lê Thị Đ làm chủ sở hữu; ngày 17/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho ông Nguyễn Trọng C, ông C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 (một) giấy phép lái xe ô tô số 700214002426 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp ngày 28/4/2021, có giá trị đến ngày 28/4/2026 mang tên Trần C , xét không cấm bị cáo hành nghề lái xe nên HĐXX trả lại cho bị cáo.

Đối với ông Nguyễn Trọng C sau khi tai nạn xảy ra chỉ bị xây sát nhẹ không bị thương tích gì, ông C không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên HĐXX không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (22/02/2023).

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã A K, huyện Q, tỉnh BP giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Các bên đã tự giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

4. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Trả lại cho bị cáo Trần C 01 (một) giấy phép lái xe ô tô số 700214002426 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp ngày 28/4/2021, có giá trị đến ngày 28/4/2026 mang tên Trần C .

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Trần C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo trong hời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ