- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày 12 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hải Anh Ông Trần Xuân Chỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số 76/2022/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án xét xử số 79/2022/QĐXXST – HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi cư trú: xóm 7, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; bố đẻ : Nguyễn Văn T. Sinh năm 1922 ( đã chết); mẹ đẻ: Trần Thị L, sinh năm 1924; vợ: Đỗ Thị Y. Sinh năm 1975; con: Có 3 con, lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 1996.
- Tiền án, tiền sự: không
- Nhân thân: Ngày 02/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực xử phạt 27 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Bị cáo Nguyễn Văn T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2022. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Trực.
Bị cáo Nguyễn Văn T có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/12/2022, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà ra đường tỉnh lộ 487 thuộc xóm 7, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định rồi đón xe buýt lên khu vực chân cầu Đò Quan thuộc phường Cửa Nam, thành phố Nam Định. Tại đây, T gặp và mua số ma túy trên của một người đàn ông không quen biết với giá 400.000 đồng để sử dụng. T cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ ra đón xe buýt về nhà. Đến khoảng 14 giờ 45 phút ngày 12/12/2022, tổ công tác Công an huyện Nam Trực làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đường liên thôn thuộc xóm 7, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định phát hiện và thu giữ tại túi quần bên trái T đang mặc 04 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong kí hiệu M1).
Tại bản Kết luận giám định số 1870/KL-KTHS, ngày 14/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 04 gói giấy màu trắng, trong phong bì thư niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu M1: 0,308 gam.
Tại bản cáo trạng số 02/CT –VKS ngày 26 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số heroine có trong 01 phong bì thư được niêm phong số 1870/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định.
4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 00 phút ngày 12/12/2022, bản kết luận giám định số 1870/KL – KTHS ngày 14/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định, lời khai của người làm chứng, vật chứng của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 12/12/2022, tại khu vực đường liên thôn thuộc xóm 7, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép 0,308 gam heroine, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo không những hủy hoại sức khỏe, nhân cách và kinh tế của bị cáo mà còn xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào;
Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này, tạo điều kiện cho bị cáo rèn luyện trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn T tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Toàn bộ số heroine được hoàn lại sau giám định, nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2.Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/12/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số heroine, có trong 01 Phong bì thư được niêm phong số 1870/KL – KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định.
(Vật chứng có đặc điểm nhưbiên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện T; - Nhà tạm giữ Công an huyện T; - Cơ quan THA hình sự, huyện T; - Chi cục THA dân sự H. T; - UBND xã T ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thịnh |