- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:06/2023/HS-ST Ngày:05-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Nga
2/ Bà Nguyễn Thị Nguyên
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Ngô Kiều Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 277/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Minh Đ, sinh năm 1991, tại tỉnh Long An; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú: Ấp 4, xã T, huyện Đ, tỉnh A; chỗ ở: KN ấp 1, xã P, huyện B, Thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Hoàng Anh S; họ và tên mẹ: Trịnh Thị B; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 04/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Án số 79/2018/HS-ST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2021, theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 579/GCN ngày 06/9/2021 của Trại giam Cây Cầy, đóng án phí ngày 10/12/2018.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/9/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Án số 183/2014/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015, theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 760/GCN ngày 31/8/2015 của Trại giam Cây Cầy, đóng án phí ngày 20/4/2015.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2022 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Minh Đ nghiện ma tuý từ năm 2014. Để có ma túy sử dụng, Đ đã qua khu vực Đ, thuộc Phường K, Quận T mua ma túy của người đàn ông không rõ lai lịch về sử dụng. Ngày 09/10/2022, do hết ma túy sử dụng Đ đến hẻm khu vực nhà máy bột mì đường Đ, Phường K, Quận T mua 07 gói ma tuý đá giá 700.000 đồng của một người đàn ông (không rõ lai lịch) mang về nhà tại địa chỉ KN ấp 1, xã P, huyện B. Tại đây, Đ lấy 01 gói ma túy ra sử dụng, 06 gói ma túy còn lại cất giữ trong vỏ bao thuốc lá hiệu Jet để sử dụng dần thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh phối hợp Công an xã Phong Phú tiến hành kiểm tra hành chính nhà Đ tại địa chỉ trên thì phát hiện, bắt quả tang vào lúc 06 giờ 30 phút ngày 10/10/2022. Qua khám xét Công an giữ 06 gói nylon chứa tinh thể không màu trong vỏ bao thuốc lá hiệu Jet cạnh ghế bố Đ nằm, Đ khai nhận đó là ma túy tổng hợp (loại hàng đá), mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Công an xã Phong Phú lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra, xử lý.
Tại Bản kết luận giám định số 5830/KL-KTHS ngày 14/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) thu giữ của Hoàng Minh Đ là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,3405 gam, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 1,2502 gam).
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 06 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,3405 gam, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 1,2502 gam); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, số Seri: DX3QF89QG5QR cùng 01 sim card trên thân sim có số: 1688 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý hàng đá.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thì bị cáo Hoàng Minh Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 07/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hoàng Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Minh Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạt bổ sung bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Minh Đ tại tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 59 - 75); phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết quả giám định vật chứng, Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 10/10/2022, bị cáo Hoàng Minh Đ đã có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,3405 gam, loại Methamphetamine (Theo Kết luận giám định số 5830/KL-KTHS ngày 14/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Phố Hồ Chí Minh) với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 06 giờ 30 phút cùng ngày tại nhà số A8/236 ấp 1, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Với những tình tiết được chứng minh tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Minh Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược được Nhà nước thống nhất quản lý hết sức chặt chẽ, mọi hành vi liên quan đến ma túy từng mức độ sẽ bị xử lý hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma tuý sử dụng cho bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tính đến ngày phạm tội bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 04/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Án số 183/2014/HSST). Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, Hội đồng xét xử áp dụng điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử bị cáo và khi lượng hình có mức án nghiêm với bị cáo thì mới có tác dụng răn đe bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với những người bán ma túy cho bị cáo, do tất cả không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 06 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,3405 gam, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 1,2502 gam) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý hàng đá. Những vật chứng trên là vật cấm tàng trữ; vật không có giá trị sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, số Seri: DX3QF89QG5QR cùng 01 sim card trên thân sim có số: 1688 là tài sản của bị cáo nhưng dùng làm công cụ, phương tiện để mua ma tuý nên sẽ tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo còn chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c Khoản 1, Khoản 5 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào các điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Minh Đ số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ: 06 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,3405 gam, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 1,2502 gam) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý hàng đá.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, số Seri: DX3QF89QG5QR cùng 01 sim card trên thân sim có số: 1688.
(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập vào 09 giờ 00 phút ngày 06 tháng 12 năm 2022 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh).
Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H.BC; - CA H. BC; - Chi cục THADS H.BC; - Sở Tư pháp, TP. HCM; - Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06; - Trại tạm giam đang giam, giữ bị cáo; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Hoàng Sơn |