vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Tạ Thị B, cho chị Tạ Thị B được ly hôn anh Vũ Trần Q.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Tạ Thị B, cho chị Tạ Thị B được ly hôn anh Vũ Trần Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18 /4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Huệ; Ông Nguyễn Văn Thân

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vương Thị Thanh Lan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Thái Nguyên: Không tham gia phiên tòa

Ngày 18/4/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm, thụ lý số 15/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/02/2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/QĐST-HNGĐ ngày 16/3/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tạ Thị B, sinh năm 1983, có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn: Anh Vũ Trần Q, sinh năm 1982, vắng mặt

Đều trú tại: Xóm L 2, xã B, TP Sông Công, Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, chị Tạ Thị B trình bày:

Chị và anh Vũ Trần Q kết hôn năm 2018, đăng ký tại UBND xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị và anh về chung sống cùng với bố mẹ chồng tại xóm La Cảnh 2, xã Bá Xuyên, Tp Sông Công, Thái Nguyên. Vợ chồng sống được với nhau khoảng 1 năm thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ năm 2019. Từ đó chị và anh Q không còn qua lại chăm sóc, liên lạc với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Q để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án tranh chấp ly hôn theo yêu cầu khởi kiện. Tòa án đã đến gia đình anh Q ở xóm La Cảnh 2, xã Bá Xuyên, TP. Sông Công, Thái Nguyên để tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Q nhưng anh Q không có mặt tại gia đình.

Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Vũ Văn Phú là bố đẻ của anh Q; ở cùng nhà, cùng địa chỉ với anh Q ở xóm La Cảnh 2, xá Bá Xuyên, TP.Sông Công, Thái Nguyên.

Ông Phú cho biết năm 2018 chị B kết hôn với anh Vũ Trần Q và về chung sống cùng với ông bà. Sau khi kết hôn, giữa chị B, anh Q nảy sinh mâu thuẫn. Chị B đã bỏ đi từ năm 2019 đến nay không về. Do anh Q đi làm ăn ở xa, thi thoảng mới về nhà, ông nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án. Ông Phú xác nhận anh Q đã nhận được thông tin từ ông và biết việc chị B đang khởi kiện xin ly hôn anh tại Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, Thái Nguyên, nhưng anh không đến Tòa án để giải quyết ly hôn.

Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần để hòa giải cho chị B và anh Q về đoàn tụ, nhưng anh Q không đến Tòa án giải quyết vụ án, đến nay chị B vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh Q. Do anh Q vắng mặt tại các phiên hòa giải; Tòa án không tiến hành hòa giải được với các đương sự, nên vụ án được xét xử công khai ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Vũ Trần Q cư trú tại Xóm La Cảnh 2, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, Thái Nguyên. Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Chị Tạ Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với anh Vũ Trần Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa cho anh Q theo đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng anh Q vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với chị B, anh Q.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị B và anh Vũ Trần Q kết hôn năm 2018 đăng ký tại UBND xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, Thái Nguyên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Lý do chị B xin ly hôn anh Q là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 không còn qua lại với nhau nữa, chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, anh Q mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc chị B xin ly hôn nhưng không có mặt tại Tòa án để hòa giải đoàn tụ, như vậy có thể thấy anh Q không có thiện chí để hàn gắn tình cảm, vun đắp hạnh phúc gia đình. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị B, cho chị B được ly hôn anh Q là phù hợp với thực tế và Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2015.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Tạ Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Chị B, anh Q có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 180, 227, 228; Điều 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Tạ Thị B, cho chị Tạ Thị B được ly hôn anh Vũ Trần Q.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Chị Tạ Thị B phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0001797 ngày 16/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

5. Về quyền kháng cáo: Chị B, anh Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ