vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 09/06/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Đỗ Thị Diệu H. Bà Đỗ Thị Diệu H được ly hôn với ông Gwon Gi Ch.

[2] Về chi phí, lệ phí ủy thác tư pháp. Bà Đỗ Thị Diệu H phải chịu 400.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp và 3.000.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí, lệ phí ủy thác đã nộp theo các biên lai thu số AA/2021/0020575, AA/2021/0020576 và AA/2021/002057… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Diệu H"
  • Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Đỗ Thị Diệu H. Bà Đỗ Thị Diệu H được ly hôn với ông Gwon Gi Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày 09 - 6 - 2023
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Cù Thị Lan

2. Ông Lê Ngọc Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 25/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXX-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Diệu H, sinh năm 1990;

HKTT: Đội 4, thôn 2A, xã Ea W, huyện Ea H’l, tỉnh Đắk Lắk.

Địa chỉ: 17 Y B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Gwon Gi Ch, sinh năm 1988;

Địa chỉ: K 1769 U, B-m, Y-s, Gieongsangbuk-do, Korea (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Đỗ Thị Diệu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Diệu H và ông Gwon Gi Ch kết hôn dựa trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27/4/2017 tại S-d. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng không chung sống với nhau. Bà H ở Việt Nam, còn ông Gwon Gi Ch ở Hàn Quốc, lý do là không hòa hợp và không yêu thương nhau. Đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Gwon Gi Ch

- Về con chung: Không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn ông Gwon Gi Ch đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thực hiện thủ tục tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ngày, giờ mở phiên tòa thông qua Bộ tư pháp.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp để tống đaṭ, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Gwon Gi Ch theo đúng quy định của luật tố tụng dân sự. Vì vâỵ, Tòa án xét xử vắng mặt bà Đỗ Thị Diệu H và ông Gwon Gi Ch là đúng điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu xin ly hôn của bà Đỗ Thị Diệu H là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, sau khi kết hôn, hai vợ chồng không chung sống với nhau, bà H ở Việt Nam, còn ông Gwon Gi Ch ở Hàn Quốc. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Diệu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền của Tòa án.

Bà Đỗ Thị Diệu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Gwon Gi Ch, hiện đang cư trú tại Hàn Quốc nên đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Về sự vắng mặt của đương sự.

Ngày 08/7/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Văn bản ủy thác tư pháp và tương trợ tư pháp gửi Bộ Tư pháp để tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với bị đơn ông Gwon Gi Ch. Ngày 19/9/2022, Bộ Tư pháp có văn bản thông báo đã gửi toàn bộ hồ sơ ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đến Cục Quản lý Tòa án quốc gia, Đại Hàn Dân Quốc. Ngày 30/11/2022, Tòa án địa phương tại Hàn Quốc đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Gwon Gi Ch. Ông Gwon Gi Ch đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn bà Đỗ Thị Diệu H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Đỗ Thị Diệu H và bị đơn Gwon Gi Ch.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Diệu H và ông Gwon Gi Ch kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27/4/2017 tại Hàn Quốc; đã thực hiện thủ tục ghi chú kết hôn tại Việt Nam nên đây là hôn nhân hợp pháp, được công nhận tại Việt Nam. Sau khi kết hôn và đến thời điểm hiện nay, hai vợ chồng không chung sống với nhau, bà H ở Việt Nam, còn ông Gwon Gi Ch ở Hàn Quốc. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ủy thác lấy lời khai của ông Gwon Gi Ch, ông Gwon Gi Ch đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của bà H. Hội đồng xét xử, xét thấy: Bà H và ông Gwon Gi Ch đã ly thân một thời gian dài, mỗi người sống một nơi, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, bà H được ly hôn với ông Gwon Gi Ch.

- Về con chung: Bà H và ông Gwon Gi Ch không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về chi phí, lệ phí ủy thác tư pháp và án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền chi phí, lệ phí ủy thác tư pháp và án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 153, Điều 207, điểm d khoản 1 Điều 469; điểm b khoản 1 Điều 470, Điều 474, Điều 475, Điều 476, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Đỗ Thị Diệu H. Bà Đỗ Thị Diệu H được ly hôn với ông Gwon Gi Ch.

[2] Về chi phí, lệ phí ủy thác tư pháp.

- Bà Đỗ Thị Diệu H phải chịu 400.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp và 3.000.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí, lệ phí ủy thác đã nộp theo các biên lai thu số AA/2021/0020575, AA/2021/0020576 và AA/2021/0020577 ngày 07/7/2022 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

- Bà Đỗ Thị Diệu H phải chịu 10.000.000 đồng tiền chi phí dịch thuật văn bản, số tiền này bà H đã nộp và chi phí xong.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Bà Đỗ Thị Diệu H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0020019 ngày 01/6/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk (Do bà Văn Thị Quỳnh Tr nộp thay).

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Đương sự cư trú ở nước ngoài được quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ