- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thu H - Nguyễn Phú H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Phú H’.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 16-01-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Minh Hằng
Ông Đô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXX-ST ngày 30 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H; nơi ĐKHKTT: Số P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số V, phố B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phú H’, nơi ĐKHKTT: Số P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số V, phố B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 9 năm 2022, bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Phú H’ kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn An Dương, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/3/2010. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung trong cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã khiến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, để tự chủ động trong cuộc sống của mình nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Phú H’.
- Về con chung: Chị H và anh H’ có 02 con chung là Nguyễn Phú D, sinh ngày 02/4/2011 và Nguyễn Nguyên H, sinh ngày 09/4/2015. Ly hôn, chị H nhận nuôi Nguyễn Nguyên H và giao con Nguyễn Phú D cho anh H’ nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Phú H’ trình bày:
Anh xác nhận điều kiện kết hôn, mâu thuẫn như chị H đã trình bày. Anh và chị H mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh chị đã sống ly thân không phụ thuộc nhau về kinh tế, giờ chị H có đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý. Về con chung: Anh chị có 02 con chung như chị H đã trình bày. Khi ly hôn anh đồng ý với yêu cầu của chị H. Anh có công việc với thu nhập ổn định đảm bảo điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng con chung. Anh đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Phú Duy cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Nguyên Han cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H’ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, hai bên không tìm được tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã. Anh chị đã sống ly thân một thời gian, không còn quan tâm đến nhau cũng không phụ thuộc kinh tế của nhau. Như vậy, xác định mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H xin ly hôn anh H’ là có căn cứ.
Về con chung: Chị H và anh H’ có 02 con chung. Xét chị H và anh H’ đều đi làm và có thu nhập ổn định nên điều kiện nuôi con là ngang nhau. Vì vậy, yêu cầu của chị H về con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình và phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo sự phát triển của các cháu về tâm sinh lý nên có căn cứ chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Nguyễn Phú H’ đang cư trú tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Phú H’ vắng mặt nH’ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Phú H’ quyết định kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống: anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Anh chị đã sống ly thân một thời gian không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế nữa. Nay chị H đề nghị ly hôn anh H’ đồng ý và anh chị đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An giải quyết cho anh chị được ly hôn. Hội đồng xét xử nhận định, thực tế chị H và anh H’ duy trì hôn nhân nH’ không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình, vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thu H, giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Phú H’.
Về con chung: Chị H và anh H’ có 02 con chung là cháu là Nguyễn Phú D, sinh ngày 02/4/2011 và Nguyễn Nguyên H, sinh ngày 09/4/2015. Xét, chị H và anh H’ đều có công việc và thu nhập, anh chị độc lập về kinh tế, không ai phụ thuộc ai, anh chị có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Xét cháu D là con trai đang tuổi phát triển tâm sinh lý nên cần sự chăm sóc, gần gũi của bố, mặt khác cháu D có nguyện vọng là được ở với bố. Cháu H là con gái và còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ, cháu H có nguyễn vọng là được ở cùng mẹ. Từ phân tích nên trên, nhận thấy đề nghị của chị H có căn cứ chấp nhận. Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình, giao con chung là cháu Nguyễn Phú D cho anh Nguyễn Phú H’ trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Nguyên H cho chị Nguyễn Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh H’ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Phú H’ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Phú H’ được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Phú H’.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phú D, sinh ngày 02/4/2011 cho anh Nguyễn Phú H’ trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là cháu Nguyễn Nguyên H, sinh ngày 09/4/2015 cho chị Nguyễn Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Phú H’ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Phú H’ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí:
- Chị Nguyễn Thu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nH’ được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004781 ngày 19 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Phú H’ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND quận Hải An; - Chi cục THA DS quận Hải An; - UBND thị trấn An Dương, huyện An Dương, TP. Hải Phòng; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |