- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cchị Nguyễn Thị X ly hôn với anh Trần Tấn T."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 10 - 02 - 2023. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Trung Chiến.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Cúc
Bà Trần Thị Hoa
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 486/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1984;
Trú tại: tổ 6, ấp 5, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Anh Trần Tấn T, sinh năm 1989;
Trú tại: tổ 6, ấp 5, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
( Anh T, chị X vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày:
Chị và anh Trần Tấn T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được UBND xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 18 ngày 05/01/2009.
Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không còn tôn trọng lẫn nhau và xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Trần Quốc D, sinh ngày 08/11/2011, hiện tại cháu D đang sống với chị X, do chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị xin được chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Tấn T trình bày:
Anh công nhận vợ chồng mâu thuẫn đã nhiều lần chị X làm đơn xin ly hôn với anh và anh cũng chấp nhận yêu cầu ly hôn đơn phương của chị X. Về con chung anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Trần Tấn T.
Về con chung: Giao con chung tên là Trần Quốc D, sinh ngày 08/11/2011 cho chị X nuôi dưỡng. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa giải quyết và nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc chị X phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự:
1.1. Căn cứ Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
1.2. Anh Trần Tấn T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Chị X có đơn xin vắng mặt khi xét xử. Căn cứ khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị X và anh T.
Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị X và anh Trần Tấn T là hợp pháp vì hai bên tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định, nên được pháp luật bảo vệ.
2.2. Yêu cầu của chi X xin được ly hôn với anh T. Vì chị X cho rằng cuộc sống của vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến gia đình mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh, chị là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ được, nên cho chị X được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.
2.3. Đối với anh Trần Tấn T đã lên tòa làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án, đã làm bản tự khai tại tòa, nhưng sau đó anh T không hợp tác làm việc và bỏ về mặc dù được Tòa án giải thích pháp luật, nhưng anh T cho rằng chị X đề nghị ly hôn và anh đã đồng ý thì Tòa án cứ cho chị X ly hôn đơn phương theo yêu cầu của chị X, nên không đồng ý tiếp tục làm việc. Xét thấy Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, được coi như anh T tự tước bỏ quyền trình bày tại tòa.
2.4. Về con chung: Chị X xin được nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Quốc D, sinh ngày 08/11/2011 vì hiện tại cháu D đang được chị X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và phù hợp với nguyện vọng của cháu D là xin được ở với mẹ, nên giao cho chị X được quyền nuôi dưỡng con chung, phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định của pháp luật.
2.5. Về cấp dưỡng nuôi con chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét
2.6. Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2.7. Nợ chung: Chị X khai không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị X phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào phần tạm ứng án phí đã nộp.
. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; 35; 39; 147; khoản 1, điểm b, khoản 2, Điều 227; 269; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 91 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Trần Tấn T.
2. Về con chung:
- Giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 08/11/2011 cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
- Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Anh Trần Tấn T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0004600 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, chị X đã nộp đủ.
6. Chị Nguyễn Thị X và anh Trần Tấn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - UBND xã Vĩnh Thới; - Chi cục THADS H Vĩnh Cửu; - Lưu: Hồ sơ, Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Trung Chiến |