- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Trương Thị M với Trần Văn Ch"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ – ST Ngày: 13 – 01 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Long;
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên;
Bà Trịnh Thị Hồng Cúc;
- Thư ký phiên tòa: Ông Quảng Đại Phát – Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên tòa: Bà Tài Thị Cao Sâm – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2022/TLST – HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp "Ly hôn, nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2022/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm 2000.
Trú tại: thôn Lạc T 3, xã Phước D, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Ch, sinh năm 1992.
Trú tại: thôn Lạc S 2, xã Cà N, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
Bà M có đơn xét xử vắng mặt, ông Ch vắng mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn Ch kết hôn ngày 26/4/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Cà N, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau do ở chung với cha mẹ và chị ruột ông Ch nên cuộc sống luôn căng thẳng. Ông Ch đi làm về không đưa tiền cho bà chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, nhiều lần bạo hành hăm doạ, đánh đập bà. Đến tháng 8 năm 2022 nhận thấy tình cảm không còn và không thể sống chung nữa, bà quyết định ly thân với ông Ch. Thời gian ly thân, không ai quan tâm chăm sóc cho nhau mạnh ai nấy sống và bà làm việc để kiếm tiền nuôi các con. Nay mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn nên bà xin được ly hôn với ông Trần Văn Ch.
- Về con chung: Bà với ông Ch có 02 con chung là Trần Ngọc Tr (sinh ngày 30/5/2017) và Trần Ngọc Ch (sinh ngày 24/9/2018). Bà có nguyện vọng được nuôi 02 con và không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con chung.
Hiện nay bà đang làm ở cảng cá Tịnh Kỳ ở tỉnh Quảng Ngãi và bán quán cơm tấm thu nhập bình quân mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng, đủ khả năng nuôi con chung.
- Về tài sản, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ông Trần Văn Ch không đến Toà án làm việc, không có lời khai.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, còn bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật theo quy định tại các điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn với ông Trần Văn Ch; Giao 02 con chung là Trần Ngọc Tr (sinh ngày 30/5/2017) và Trần Ngọc Ch (sinh ngày 24/9/2018) cho bà Trương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Văn Ch không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do bà M không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Thị M và ông Trần Văn Ch có hộ khẩu thường trú tại huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.
Về thủ tục tống tụng: Ông Trần Văn Ch (bị đơn) vắng mặt đã được Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam triệu tập hợp lệ nên không thể thực hiện thủ tục công khai chứng cứ, hoà giải. Phiên toà được mở lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử. Tại phiên tòa bà Trương Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại đơn khởi kiện bà Trương Thị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản lấy lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết của vụ án là: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà Trương Thị M và ông Trần Văn Ch tiến đến hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cà N, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận ngày 26/4/2019 nên hôn nhân giữa bà M và ông Ch hợp pháp.
Nguyên đơn bà Trương Thị M cho rằng quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Ch không thể duy trì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, bất đồng quan điểm. Từ tháng 8 năm 2022 đến nay bà M và ông Ch sống ly thân, hai bên không còn liên hệ. Nhận thấy tình cảm giữa bà M và ông Ch không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M: bà Trương Thị M được ly hôn với ông Trần Văn Ch.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Ngọc Tr (sinh ngày 30/5/2017) và Trần Ngọc Ch (sinh ngày 24/9/2018). Bà M yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hiện tại con chung đang ở với bà M. Xét con chung từ khi bà M với ông Ch sống ly thân bà M vẫn chăm sóc và nuôi dưỡng con chu đáo phát triển tốt vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M. Từ các nhận định trên Hội đồng xét xử nghĩ nên giao con chung cho bà M nuôi là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trương Thị M không yêu cầu ông Trần Văn Ch cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản, nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Trương Thị M phải chịu 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn luật định các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ sự phân tích trên thấy rằng ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 199, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M với ông Trần Văn Ch về việc yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung.
2. Bà Trương Thị M được ly hôn với ông Trần Văn Ch.
3. Về con chung: Bà Trương Thị M được quyền nuôi nuôi dưỡng hai con chung tên: Trần Ngọc Tr (sinh ngày 30/5/2017) và Trần Ngọc Ch (sinh ngày 24/9/2018). Hiện nay con chung đang ở với bà M.
4. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trả hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
5. Về án phí: Bà Trương Thị M phải chịu 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001478 ngày 28 – 10 – 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Bà Trương Thị M đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Thuận Nam; - CCTHADS huyên Thuận Nam; - UBND xã Cà N (để biết); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Long |