vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phạm Cát T đối với anh Nguyễn Văn Q. Chị Nguyễn Phạm Cát T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

2- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Phạm Cát T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn An Na, sinh ngày 23/01/2020; ghi nhận chị Nguyễn Phạm Cát T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA Nguyễn Phạm Cát T - Nguyễn Văn Q tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phạm Cát T đối với anh Nguyễn Văn Q. Chị Nguyễn Phạm Cát T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-02-2023
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Dũng Nhân;

Ông Bùi Duy Thấm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 308/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phạm Cát T, sinh năm 1997; địa chỉ: Ấp An Th, xã An Ninh T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ 10, ấp Tân Đ, xã Tân Th, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 15/9/2022 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Phạm Cát T trình bày:

-Về hôn nhân: Chị và anh Q chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn ngày 25/3/2020 tại xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường gây gỗ, cải vã. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đã ly thân từ tháng 10/2020 đến nay không ai quan tâm đến ai. Gia đình hai bên đều biết về mâu thuẫn của vợ chồng chị nhưng không có ý kiến gì mà để anh chị tự quyết định. Nay chị thấy rằng không thể duy trì hạnh phúc gia đình nên yêu cầu được ly hôn.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn An Na, sinh ngày 23/01/2020 đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị T về các vấn đề hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung. Nay anh yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xét xử theo hướng:

+ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phạm Cát T đối với anh Nguyễn Văn Q.

+ Về con chung: Giao con chung cho chị Nguyễn Phạm Cát T nuôi dưỡng; ghi nhận chị Nguyễn Phạm Cát T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Phạm Cát T và anh Nguyễn Văn Q đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Chị Nguyễn Phạm Cát T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị T và anh Q đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh Q.

Về hôn nhân:

Chị T khai nhận chị và anh Q chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn ngày 25/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An là phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn chị cung cấp.

Quá trình giải quyết vụ án, chị T khai nhận quá trình chung sống vợ chồng thường mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ, cải vã. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đã ly thân từ tháng 10/2020 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Q. Anh Q thừa nhận anh chị có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn với chị T nhưng anh đề nghị được giải quyết, xét xử vắng mặt. Do đó, đã có đủ cơ sở xác định anh chị không xây dựng được hạnh phúc gia đình, tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn An Na, sinh ngày 23/01/2020. Nay chị T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Q đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, ý kiến trên của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Cần giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh Q đều không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phạm Cát T đối với anh Nguyễn Văn Q. Chị Nguyễn Phạm Cát T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

2- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Phạm Cát T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn An Na, sinh ngày 23/01/2020; ghi nhận chị Nguyễn Phạm Cát T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Phạm Cát T và anh Nguyễn Văn Q đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

4- Về án phí: Chị Nguyễn Phạm Cát T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007710 ngày 17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị Nguyễn Phạm Cát T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ