- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn H - H"
- Tòa quyết gì? Xử cho: chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Trọng H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-01-2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ.
Ông Phan Mạnh Tưởng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/01/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 2001.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1996.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm B, thôn T, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
(Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chị Phạm Thị Thu H trình bày:
Chị H và anh Nguyễn Trọng H có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội vào ngày 07/12/2020. Thời gian đầu vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc đến tháng 12/2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm lối sống, không tìm được tiếng nói chung. Đã tìm mọi cố gắng để hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2021 đến nay, thời gian ly thân Chị H tự nhận thấy không còn tình cảm với anh H do không ai còn quan tâm đến ai. Để giải phóng cho hai người, Chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị H và anh Nguyễn Trọng H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Minh C, sinh ngày 18/8/2021. Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung ở với Chị H. Nay ly hôn, Chị H đề nghị tiếp tục được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Minh C cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: Chị H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn là anh Nguyễn Trọng H: Hiện có hộ khẩu và đang cư trú tại xóm 16, thôn Tiên Mai, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tại bản tự khai ngày 28/11/2022 anh H có quan điểm trình bày về việc tự nguyện kết hôn và có một con chung với Chị H là cháu Nguyễn Thị Minh C đúng như Chị H trình bày: Về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là có vì quá trình vợ chồng chung sống theo anh H thì vợ chồng nào cũng có những mâu thuẫn, xích mích. Chính vì điều đó, từ tháng 5/2022 đến nay Chị H đã tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở nên vợ chồng sống ly thân. Quan điểm của anh H là không muốn vợ chồng ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ, còn nếu Chị H kiên quyết ky hôn thì anh đồng ý và nhất trí với các yêu cầu về con chung như Chị H trình bày.
Về tài sản, công sức và nợ chung: anh H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cụ thể: xin ly hôn với anh H và đề nghị được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Thị Minh C, sinh ngày 18/8/2021 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, công sức và nợ chung: không có.
Anh H vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu ý kiến về quá trình giải quyết vụ án.
Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Phạm Thị Thu H đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật trong quy trình tố tụng. Bị đơn là anh Nguyễn Trọng H đã có lời khai tại Tòa án. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các bước thủ tục tố tụng, giao văn bản đầy đủ cho anh H trước khi mở phiên tòa. Tại phiên tòa anh H vắng mặt không lý do đến lần thứ hai nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị Phạm Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Trọng H.
Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Minh C, sinh ngày 18/8/2021 cho Chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: chị Phạm Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: chị Phạm Thị Thu H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Trọng H có hộ khẩu và nơi cư trú tại thôn Tiên Mai, xã Hợp Thanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Thu H và anh Nguyễn Trọng H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/12/2020 tại UBND xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của Chị H: Chị H và anh H kết hôn tháng 12/2020, chung sống với nhau mới được một thời gian ngắn đã ly thân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Tại phiên tòa hcij Hồng thừa nhận không còn tình cảm vợ chồng với anh H nên mong muốn được ly hôn, phía anh H có nguyện vọng được đoàn tụ nhưng không kiên quyết và đồng ý theo quan điểm của Chị H, tại phiên tòa anh H vắng mặt, phía Chị H kiên quyết xin ly hôn nên HĐXX cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị H là phù hợp với pháp luật theo quy định tại Khoản 01 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Hiện Chị H và anh H có 01 con chung là Nguyễn Thị Minh C, sinh ngày 18/8/2021. Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung ở Chị H, xét thấy hiện tại con chung còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của Chị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó giao con chung là cháu Nguyễn Thị Minh C cho Chị H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ghi nhận sự tự nguyện của Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: Chị H và anh H đều xác nhận không có tài sản, công sức và nợ chung vợ chồng.
- Về án phí: chị Phạm Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51 và Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật HN&GĐ, điểu 147, điều 273, 271 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử cho: chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Trọng H.
Về con chung: Buộc anh Nguyễn Trọng H giao con chung là cháu Nguyễn Thị Minh C, sinh ngày 18/8/2022 cho chị Phạm Thị Thu H Về tài sản, công sức và nợ chung tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của Chị H không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác.
Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Chị H và anh H đều xác nhận không có tài sản chung và nợ chung vợ chồng.
2. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sự huyện Mỹ Đức. Được trừ vào sô tiền tam juwngs án phí Chị H đã nộp theo biên lai thu số
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên ám sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Hương Sơn (nơi đăng ký kết hôn); - Đương sự; - Lưu hồ sơ. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Hồng THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |