- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm H.
- Căn cứ chính? Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 27/02/2023 “V/v ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Quân;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Thủy và bà Đỗ Thị Hà;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lâm Oanh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2022 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 215/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc:“ Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/QĐ-HPT ngày 07/02/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm H; Địa chỉ: Xóm Ch Tr, thôn Kh H, xã M C, huyện Ph M, tỉnh Bình Định – Có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc M; Địa chỉ: Thôn B, xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/9/2022, trong biên bản lấy lời khai và lời khai đơn đề nghị giải quyết vắng mặt chị Nguyễn Thị Diễm H trình bày: Tôi và anh Nguyễn Ngọc M đến chung sống với nhau vào năm 2019 khi đến chúng sống với nhau chúng tôi hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc chúng tôi và đến ngày 05/4/2019 thì chúng tôi đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông. Từ khi chung sống với nhau thì tình cảm vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, anh M không quan tâm tới gia đình, không lo công việc gia đình và không khí gia đình luôn luôn nặng nề và chúng tôi đã ly thân nhau từ năm 2020 cho đến nay. Hiện nay, tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, mẫu thuẫn trầm trọng và đã ly thân nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh M.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết;
* Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Ngọc M không về Tòa án làm việc: Tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định
Kết quả thu thập chứng cứ: Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, được đại diện chính quyền địa phương cung cấp và mẹ M cho biết: Trong quá trình chung sống tại địa phương, chị H và anh M không báo với địa phương về việc mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên, tại địa phương và gia đình thấy hiện nay không thấy chị H và anh M chung sống cùng nhau.
Phần tranh luận tại phiên tòa, theo đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn; bị đơn vắng mặt không lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và sự tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành nghiêm túc quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tố tụng: Đảm bảo đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm H ly hôn với anh Nguyễn Ngọc M.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện Toà án đã triệu tập các đương sự trong vụ án lên Tòa án giải quyết nhưng phía bị đơn không hợp tác, không lên Tòa án giải quyết nên Tòa án đã tiến hành xác M, niêm yết các văn bản tố tụng, công khai chứng cứ và hoà giải giữa các đương sự; thông báo kết quả về phiên hòa giải theo quy định; bị đơn vắng mặt tại các buổi công khai chứng cứ và hòa giải nên Toà án ban hành quyết định đưa ra xét xử theo đúng thủ tục tố tụng; Phiên tòa lần thứ nhất anh Nguyễn Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay anh Nguyễn Ngọc M vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn xét xử vắng mặt anh Nguyễn Ngọc M theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Ngọc M trú tại thôn B, xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 - Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về quan hệ pháp luật và nội dung tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm H trình bày: Chị H và anh M đến chung sống với nhau từ năm 2019 đăng ký kết hôn tại UBND xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông theo số 14/2019 ngày 05/4/2019. Do mâu thuẫn gia đình và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Nên vụ án này có quan hệ pháp luật là tranh chấp về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự;
* Nhận định của hội đồng xét xử về nội dung vụ án như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh M đến chung sống với nhau từ năm 2019 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông theo số 14/2019 ngày 05/4/2019 là có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Diễm H và anh Nguyễn Ngọc M là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chị Nguyễn Thị Diễm H nộp đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc M cho rằng giữa chị H và anh M đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm, không lo lắng công việc gia đình, vợ chồng không tìm ra được tiếng nói chung nên đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Điều này cho thấy: “Tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh M là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” nên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị H là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H và anh M.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có nên chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm H.
Chị Nguyễn Thị Diễm H ly hôn với anh Nguyễn Ngọc M.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Nguyễn Thị Diễm H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền chị H đã nộp theo biên lai số 00001711 ngày 20 tháng 10 năm 2023 tại Chị cục thi hành án dân sự huyện Đ S, tỉnh Đăk Nông.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song (02 bản); - Chi cục THADS huyện Đ S; - UBND xã Thuận Hà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Đã ký Phạm Văn Quân |