- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c…
- Căn cứ chính? Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 31-3-2023 “V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Hoè và ông Lê Văn Lượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Ông Lương Hồng Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 168/2022/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXX-ST ngày 28 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 16 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H; địa chỉ: Bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt.
Bị đơn: Anh Đinh Hải N; địa chỉ: Bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
Chị H và anh Đinh Hải N chung sống và kết hôn với nhau vào năm 2021, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện Đ, việc chung sống và kết hôn là tự nguyện không ai xúi dục ép buộc. Chung sống với nhau đến khoảng tháng 3/2022 thì phát mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do khi chị H sinh con thì giữa chị và anh N có sự khác biệt về cách chăm sóc con, anh N không phụ giúp chị H chăm sóc con. Khi con được hơn một tháng tuổi thì vợ chồng chị H cải nhau nên anh N bế con về nhà mẹ đẻ không cho chị H thăm gặp con. Vì vậy, chị H cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Kể từ tháng 3/2022 đến nay chị H về ở với mẹ đẻ và sống ly thân cho đến nay. Quá trình sống chung giữa chị H và anh N có 01 con chung là cháu Đinh Thị Kim N, sinh ngày 10-2-2022.
Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết những vẫn đề sau đây:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh Đinh Hải N
Về con chung: Đơn khởi kiện chị H có nguyện vọng được nuôi 01 con chung là cháu Đinh Thị Kim N, sinh ngày 10-2-2022, không yêu cầu anh N cấp dưỡng; tuy nhiên, hiện nay chị H nhận thấy anh N đã nuôi cháu N từ nhỏ (01 tháng tuổi) cho đến nay và hiện nay điều kiện của chị H chưa đảm bảo để nuôi dưỡng, chăm sóc con nên chị H đề nghị giao con cho anh N nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng chị H tự thỏa thuận với anh N sau.
Quá trình anh N nuôi dưỡng chị H đề nghị có quyền được thăm non con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh N không đến Tòa án làm việc mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên không ghi nhận được ý kiến của anh N. Do vậy, Tòa án tiến hành xác minh, niêm yết giải quyết theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh N; giao con chung là cháu Đinh Thị Kim N, sinh ngày 10-2-2022 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: chị H và anh N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh N nên quan hệ pháp luật là tranh chấp về "ly hôn và nuôi con "; bị đơn anh N có hộ khẩu thường trú tại xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị H:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh N chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 03-11-2021, tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Quá trình sống chung, hai người thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh N.
Về con chung: Trong quá trình sống chung, giữa chị H và anh N có 01 con chung là cháu Đinh Thị Kim N, sinh ngày 10-2-2022, xét thấy: mặc dù cháu N chưa đủ 36 tháng tuổi, tuy nhiên theo trình bày của chị H thì anh N là người nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N từ khi cháu N được 01 tháng tuổi đến nay. Chị H có đề nghị giao cháu N cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng chị H không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Đinh Hải N.
1.2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Kim N, sinh ngày 10-2-2022 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi)
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
2. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0004352, ngày 30-11-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Glong; - Chi cục THADS huyện Đắk Glong; - UBND xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Đình Hưng |