vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: 1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Đ. 1 Về hôn nhân: chị Trương Thị Đ được ly hôn với anh Lê Xuân H; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Đ tranh chấp ly hôn, nuôi con chung với Lê Xuân H (xã Nghĩa Hưng)"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PĂH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
Bản án số : 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày : 17/5/2023
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH - GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Hoàng Thị Bình;

+ Bà Nguyễn Thị Kim Hậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Nữ Hương Giang

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh – Gia Lai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Diệp

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xét xử TAND huyện Chư Păh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số:141/2022/HSST-HNGĐ, ngày 19 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp: Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:141/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 141/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Đ (tên khác Trương Thị Hoa Đ), sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn 7, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai

- Bị đơn: Anh Lê Xuân H, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 7, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 10 năm 2022 của chị nộp ngày 17 tháng 10 năm 2022, bản tự khai, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Trương Thị Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Xuân H tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã Vinh Quang, TP.Kon Tum, tỉnh Kon Tum vào ngày 17/11/1993. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H có tính lăng nhăng, quan hệ tình cảm với nhiều phụ nữ, không đưa tiền về cho chị lo gia đình con cái mà hay chửi bới gây ức chế tinh thần cho chị. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh H không thay đổi. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: anh chị có 04 con chung: Lê Thị Thu H1, sinh năm 1994; Lê Thị Thu H2, sinh năm 2001; Lê Thị Thu Th và Lê Thành L, sinh ngày 06/5/2008 (song sinh).

Vì con Lê Thị Thu H1 và Lê Thị Thu H2 đã lớn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị có nguyện vọng nuôi 02 con chung Lê Thị Thu Th và Lê Thành L.

Về cấp dưỡng nuôi nuôi con: chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

- Đối với bị đơn anh Lê Xuân H: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cập, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc nếu ý kiến đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng chứ, Thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử,quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh H đều không đến làm việc, không cung cấp cho Tòa án các văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

*Về hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật HNGĐ, đề nghị HĐXX chấp nhận cho chị Trương Thị Đ được ly hôn với anh Lê Xuân H.

*Về con chung: Con Lê Thị Thu H1 và Lê Thị Thu H2 đã lớn đủ khả năng tự lập cho bản thân, chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Lê Thị Thu Th và Lê Thành L, sinh ngày 06/5/2008; xét nguyện vọng của cháu Th và L muốn ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn và cũng là nguyện vọng của chị Đ và thực tế chị Đ hiện đang chăm sóc nuôi dưỡng con, Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX giao con chung là cháu Th và L cho chị Đ chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Đ không yêu cầu anh H cấp dưỡng nên không xem xét.

*Tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: chị Đ không yêu cầu nên không xem xét.

* Về án phí: Buộc chị Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Trương Thị Đ đối với bị đơn anh Lê Xuân H có địa chỉ Thôn 7, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Xuân H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Đ và anh Lê Xuân H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn tại UBND xã Vinh Quang, TP.Kon Tum, tỉnh Kon Tum vào ngày 17/11/1993. Việc kết hôn của anh chị đúng theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn theo nguyên đơn trình bày là do anh H có tính lăng nhăng, quan hệ tình cảm với nhiều phụ nữ, không chung thủy, về nhà hay chửi bới gây ức chế tinh thần chị. Chị Đ và gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh H không thay đổi dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, luôn xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh H không lên Tòa án làm việc cũng như không có ý kiến cho Tòa án, thể hiện anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm để cùng chị Đ đoàn tụ gia đình. Tại phiên tòa, chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Đ xin ly hôn với anh Lê Xuân H.

Về con chung: anh chị có 04 con chung: Lê Thị Thu H1, sinh năm 1994; Lê Thị Thu H2, sinh năm 2001; Lê Thị Thu Th và Lê Thành L, sinh ngày 06/5/2008.

Vì con Lê Thị Thu H1 và Lê Thị Thu H2 đã lớn nên chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Đ có nguyện vọng nuôi 02 con chung Lê Thị Thu Th và Lê Thành L và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy yêu cầu trên của chị Đ là chính đáng, vì con chung chung sống với chị Đ từ trước đến nay. Bản thân 02 con chung Lê Thị Thu Th và Lê Thành L cũng khai rằng muốn được ở cùng với mẹ vì mẹ chăm sóc tốt hơn. Anh H cũng không có mặt hay có ý kiến về phần con chung. Vì vậy, việc chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Đ là có căn cứ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Đ có thu nhập đảm bảo nuôi con, không yêu cầu anh Lê Xuân H cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến phần quyết định của bản án.

Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị Trương Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và quy định tại Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Trương Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: 1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Đ.

1.1 Về hôn nhân: chị Trương Thị Đ được ly hôn với anh Lê Xuân H;

1.2 Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Thị Thu Th và Lê Thành L (cùng sinh ngày 06/5/2008) cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con thành niên có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân.

1.3 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

1.4 Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị Đ không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Buộc chị Trương Thị Đ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp trước đây theo biên lai số 0007281 ngày 17 tháng 10 năm 20202của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Păh. Chị Trương Thị Đ đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dấn ựu; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/5/2023), nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét phúc thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Cỡ chữ