vanban.org

Bản án 06/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn ông Huỳnh Long Đ có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Tấn T số tiền vốn vay là 16.800.000 đồng và lãi vay là 994.000 đồng. Tổng cộng là 17.794.000 đồng Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Nguyễn Tấn T có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Huỳnh Long Đ còn phải c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/DS-ST
Ngày: 30/01/2023
V/v T/C Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Đa.

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Kim Hươl.

2. Bà Hồ Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Đào – Kiểm sát viên.

Ngày 30/01/2023, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 340/2022/TLST-DS, ngày 01/11/2022 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 389/2022/QĐXXST-DS ngày 15/12/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-DS ngày 06/01/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1958 (có mặt).

HKTT: Tổ A, Khu B, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Long Đ, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, Thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2022, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn T trình bày: Vào ngày 22/6/2022, ông Huỳnh Long Đ có vay của ông 16.000.000 đồng, có lập giấy tay, lãi suất thỏa thuận miệng. Đến ngày 27/6/2022, ông Huỳnh Long Đ vay thêm 800.000 đồng, không làm biên nhận. Tổng hai lần 16.800.000 đồng. Từ khi vay đến nay ông Đ không trả vốn cũng không trả lãi cho ông.

Theo đơn khởi kiện, ông Nguyễn Tấn T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Huỳnh Long Đ có trách nhiệm trả lại ông số tiền vay còn thiếu là 16.800.000 đồng, đồng thời yêu cầu tính lãi trên số vốn vay theo lãi suất là 1,66%/tháng tính từ ngày 27/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Tại phiên tòa, ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi, ông chỉ yêu cầu tính lãi chậm thanh toán đối với số tiền còn nợ theo quy định pháp luật.

Đối với bị đơn ông Huỳnh Long Đ: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết cho đến nay, ông Đ đã nhận được các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng không tham gia tố tụng nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và ý kiến của ông Đ.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách phát biểu ý kiến:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Long Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi, ông chỉ yêu cầu tính lãi chậm thanh toán đối với số tiền còn nợ theo quy định pháp luật từ ngày 27/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi một phần yêu cầu này là tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu như trên của nguyên đơn.

Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn ông Đ cho rằng, vào ngày 22/6/2022, ông có cho ông Huỳnh Long Đ vay số tiền 16.000.000 đồng. Đến ngày 27/6/2022, ông Đ vay thêm của ông 800.000 đồng. Tổng hai lần 16.800.000 đồng. Từ khi vay đến nay ông Đ không trả vốn cũng không trả lãi cho ông. Nay ông T yêu cầu ông Đ phải có nghĩa vụ trả lại ông số vốn vay 16.800.000 đồng và trả lãi chậm thanh toán theo quy định pháp luật đối với số vốn vay tính từ ngày 27/6/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Long Đ đã nhận được các thủ tục tố tụng của Tòa án, biết được nội dung khởi kiện của ông T nhưng không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện này nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử cho rằng Hợp đồng vay tài sản giữa ông T và ông Đ được lập trên cơ sở tự nguyện của các bên, không trái đạo đức xã hội, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, khi giao kết hợp đồng, các đương sự là những người có đủ năng lực hành vi dân sự nên giao dịch trên giữa các đươg sự là hợp pháp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ khi không đóng lãi, trả vốn cho nguyên đơn Thiên.

Đối với yêu cầu về lãi chậm thanh toán của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng, việc ông Đ chậm thanh toán vốn vay cho nguyên đơn là ảnh hưởng đến lợi ích của nguyên đơn nên yêu cầu trả lãi chậm thanh toán là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 117, 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, cần buộc ông Đ trả lại cho ông T số tiền vốn vay là 16.800.000 đồng, đồng thời trả tiền lãi chậm thanh toán từ ngày vay (27/6/2022) đến ngày xét xử sơ thẩm (30/01/2023) là 07 tháng 03 ngày x 10%/năm x 16.800.000 đồng = 994.000 đồng.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách như đã phân tích trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên bị đơn ông Huỳnh Long Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là (16.800.000đồng + 994.000 đồng) x 5% = 889.700 đồng.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 227, 228; khoản 1 Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 117, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

TUYÊN XỬ:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn ông Huỳnh Long Đ có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Tấn T số tiền vốn vay là 16.800.000 đồng và lãi vay là 994.000 đồng. Tổng cộng là 17.794.000 đồng

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Nguyễn Tấn T có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Huỳnh Long Đ còn phải có trách nhiệm trả lãi cho ông Nguyễn Tấn T theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Huỳnh Long Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 889.700 đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ