vanban.org

Bản án 06/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 17/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Nguyễn Mai Duy A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Mai Duy A: 06 năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mai Duy A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Nguyễn Mai Duy A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HSST
Ngày: 17/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B – TP CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Huệ.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Công Tiên

2. Ông Nguyễn Hoài Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu – Thư ký Tòa án nhân dân quận B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân

- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

NGUYỄN MAI DUY A, giới tính: nam; sinh ngày 16/12/1997, tại Cần Thơ.

HKTT: số 78 khu vực T, phường T, quận O, thành phố Cần Thơ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ văn hóa: 9/12;

Con ông Nguyễn Minh Tr, sinh năm 1977 (sống) và bà Mai Thanh Tr sinh năm 1977 (sống); bị cáo có 01 người em sinh năm 2013, Bản thân bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam vào ngày 03/11/2021 tại Nhà tạm giữ Công an quận B. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lâm Kỳ D, sinh năm 2000 (Có mặt).

- 2 -

Địa chỉ: số 20 khu vực T, phường T, quận O, Thành phố Cần Thơ.

- Anh Phan Văn Th, sinh năm 1997 (Có mặt).

Địa chỉ: số 26/10 L, khu vực 2, phường B, quận B, Thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 03/11/2021, Nguyễn Mai Duy A đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy, nên đã điều khiển xe mô tô biển số 65E1-533.35 chạy hướng xuống quận Ninh kiều, thành phố Cần Thơ. Trên đường đi Duy A điện thoại cho một thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ để mua bốn chấm và mười lăm con (có nghĩa là mua bốn gói ma túy Ketamine và mười lăm viên thuốc lắc). Người thanh niên đồng ý bán cho bị cáo với giá tiền 5.400.000 đồng và kêu bị cáo cứ chạy xuống hướng quận Ninh Kiều, trên đường đi gặp ở đâu thì giao ma túy ở đó. Khi bị cáo chạy đến bến phà Cô Bắc thuộc phường B, quận B, thành phố Cần Thơ thì gặp người thanh niên đến giao cho bị cáo một gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMOND, bên trong có một miếng giấy trắng gói lại bốn gói nilong màu đen, nẹp miệng bên trong chứa tinh thể không màu và mười lăm viên nén màu cam. Sau khi giao dịch xong thì người thanh niên chạy về hướng quận Ninh Kiều, còn bị cáo định đi tìm bạn để lấy tiền. Trên đường đi, bị cáo thấy có lực lượng Công an tuần tra nên đã quẹo vào một con đường khác trong khu dân cư Ngân Thuận. Khi bị can đang đứng thì bị lực lượng Công an đến yêu cầu làm việc và bị cáo đã thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy và tự nguyện giao nộp số ma túy vừa mua được đang cầm trên tay trái cho lực lượng Công an và đã bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật vào 22 giờ 05 phút ngày 03/11/2021 .

Tang vật thu giữ:

- Một gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMOND, bên trong có một miếng giấy trắng gói lại bốn gói nilong màu đen, nẹp miệng bên trong chứa tinh thể không màu và mười lăm viên nén màu cam;

- Một xe mô tô xe mô tô (đã qua sử dụng), nhãn hiệu Honda màu trắng đỏ, biển kiểm soát số 65E1-533.35, số khung MH1KF4122MK214457, số máy KF41E2218576;

- Một điện thoại di động (đã qua sử dụng) hiệu SONY màu đen, imei 359644065388573;

Tại kết luận giám định số 311/KLGĐ-PC09 ngày 10/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: tinh thể không màu trong bốn gói nilong (M1) gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,6141 gam; mười lăm viên nén màu cam (M2) gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng 5,2666 gam.

- 3 -

Đối với người thanh niên giao ma túy theo lời khai của bị cáo do không đủ thông tin để xác định đầy đủ họ tên, địa chỉ cư trú nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận B tiếp tục điều tra và xử lý sau.

Đối với xe mô tô xe mô tô (đã qua sử dụng), nhãn hiệu Honda màu trắng đỏ, biển kiểm soát số 65E1-533.35, số khung MH1KF4122MK214457, số máy KF41E2218576 qua xác minh chủ sở hữu là chị Lâm Kỳ D. Chiều ngày 03/11/2021 bị cáo hỏi mượn xe của chị D để đi công việc riêng, việc bị cáo điều khiển xe để đi mua ma túy thì chị D không biết.

Đối với điện thoại di động (đã qua sử dụng) hiệu SONY màu đen, imei 359644065388573 mà bị cáo đã dùng để liên lạc giao dịch ma túy, qua điều tra thì đây là tài sản của anh Phan Văn Th. Do không có điện thoại sử dụng nên bị cáo đã mượn điện thoại này của anh Th để sử dụng khoảng 10 ngày trước ngày bị bắt. Đối với sim số 0858592147 là do bị cáo mua gắn vào điện thoại để sử dụng. Việc bị cáo dùng điện thoại để liên lạc giao dịch ma túy thì anh Th không biết.

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, lời khai nhận là hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định số 311/KLGĐ-PC09 ngày 10/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 05/CT - VKSBT ngày 17 tháng 01 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố Nguyễn Mai Duy A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như đã nêu trong Cáo trạng. Phân tích về nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo...Đề nghị áp dụng và xử lý đối với bị cáo như sau: áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 6 – 7 năm tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý:

Tịch thu tiêu hủy tang vật của vụ án là gói niêm phong số: 311/KLGĐ-PC09 ngày 10/11/2021 có đóng dấu trong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, vì đây là chất cấm lưu hành.

Trả lại cho chị D xe mô tô nhãn hiệu Honda màu trắng đỏ, biển kiểm soát số 65E1-533.35, do chị D không biết việc bị cáo mượn xe để đi mua ma túy.

Trả lại cho anh Phan Văn Th 01 điện thoại di động hiệu Sony màu đen, do anh Th cho bị cáo mượn điện thoại sử dụng và không biết được việc bị cáo dùng điện thoại liên lạc mua ma túy.

- 4 -

Đối với sim số 0858592147 không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Phía bị cáo: Thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trong Cáo trạng, không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được xem xét mức án nhẹ để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị D yêu cầu nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda màu trắng đỏ, biển kiểm soát số 65E1-533.35. Anh Th yêu cầu nhận lại điện thoại di động hiệu Sony màu đen

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và các đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với kết luận điều tra và biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, chứng minh được: vào khoảng 22 giờ 05 phút ngày 03/11/2021 Nguyễn Mai Duy A đã có hành vi tàng trữ ma túy trong gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMOND. Kết luận giám định số 311/KLGĐ-PC09 ngày 10/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Cần Thơ đã kết luận 04 gói nilong màu đen, nẹp miệng bên trong chứa tinh thể không màu giấu trong gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMOND là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,6141 gam và mười lăm viên nén màu cam là ma túy loại MDMA, khối lượng 5,2666 gam. Đây là các chất độc hại có trong danh sách được ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018 ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định về danh mục chất ma túy và tiền chất. Do vậy hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc tình tiết định khung tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là “ tàng trữ 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến m khoản này”, cụ thể là, chất MDMA có khối lượng 5,2666 gam và Ketamine có

- 5 -

khối lượng 1,6141 gam”. Do vậy, Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Từ ma túy mà rất nhiều các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác đã nảy sinh. Vì vậy mà Nhà nước đã có nhiều chính sách tuyên truyền, cảnh tỉnh về loại tội phạm này bằng nhiều hình thức. Bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, hành vi này cần phải xử lý bằng hình phạt nghiêm, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, để bị cáo có điều kiện cải tạo, tu dưỡng bản thân, sống biết đặt mình trong khuôn khổ của pháp luật.

Bị cáo có nhân thân tốt, có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Tại phần luận tội, phía đại diện Viện kiểm sát đã phân tích đầy đủ và phù hợp về việc xử lý vật chứng, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng và không phân tích thêm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Nguyễn Mai Duy A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Mai Duy A: 06 năm tù.

- Thời hạn phạt tù tính từ ngày 03/11/2021.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- Gói niêm phong số 311/KLGĐ-PC09 ngày 10/11/2021 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Cần Thơ và chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Đoàn Trường An, khối lượng còn lại sau giám định: M1(tinh thể không màu) là 1,5844gam; M2 (các viên nén màu cam được nghiền thành bột) là 4,8910 gam.

- Sim số 0858592147 (đã qua sử dụng);

- 6 -

- Trả lại cho chị Lâm Kỳ D 01 xe mô tô (đã qua sử dụng), nhãn hiệu Honda màu trắng đỏ, biển kiểm soát số 65E1-533.35, số khung MH1KF4122MK214457, số máy KF41E2218576.

- Trả lại cho anh Phan Văn Th 01 điện thoại di động (đã qua sử dụng) hiệu SONY màu đen, imei 359644065388573.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ