vanban.org

Bản án 06/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Trần Đức T 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2021. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HSST
Ngày 24/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Thu và ông Nguyễn Hà Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Phúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 24/02/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2022/TLST-HS ngày 21/01/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/20221/QĐXXST-HS ngày 11/02/2022 đối với bị cáo:

Trần Đức T sinh năm 1978; tại thị trấn 1, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú xóm 4, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Đức T1 (đã chết) và bà Bùi Thị O; vợ Phạm Thị Y và có 02 con lớn N 16 tuổi nhỏ N 13 tuổi; tiền sự không; tiền án không; lịch sử bản thân ngày 22/01/2019 bị Công an huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 20/01/2021 bị Công an xã Xuân Chính, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2021 đến ngày 31/12/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay; có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Bằng Đ sinh năm 1954; có mặt.

- Anh Trần Văn N sinh năm 1992; vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đức T là người sử dụng ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 22/12/2021 T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35FA-7185 đến khu vực ngã ba Quy Hậu, thuộc địa phận xã Hùng Tiến, huyện Kim Sơn mua của một người không quen biết 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu trắng với số tiền là 100.000 đồng. T bỏ gói ma túy vào túi áo rồi điều khiển xe mô tô đi lên huyện Y. Khoảng 07 giờ 20 phút cùng ngày khi đi đến xóm 4, xã K thì gặp tổ công tác của Công an huyện Y đang làm nhiệm vụ, tổ công tác yêu cầu T tự bỏ các đồ vật trên người để kiểm tra, nhưng T không chấp hành. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi áo khoác của T đang mặc một gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận đó là ma túy T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói nhỏ giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu M.

Cơ quan điều tra Công an huyện Y tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ của T: Gói ký hiệu M khối lượng cả bì là 0,26 gam, khối lượng bì là 0,10 gam, khối lượng chất bột dạng cục màu trắng là 0,16 gam, sau đó niêm phong lại ký hiệu M1.

Cơ quan điều tra Công an huyện Y gửi gói ký hiệu M1 bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của T để giám định. Kết luận giám định số 55/KLGĐ-PC09-MT ngày 28/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1321 gam là ma túy, loại Heroine; Heroine là chất ma túy thuộc danh mục I, số thứ tự 9 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Cáo trạng số 10/CT-VKS-YK ngày 21/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo T như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2021.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu FERVOR biển kiểm soát 35FA-7185; tịch thu tiêu hủy 0,0696 gam ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

Bị cáo T khai: Ngày 22/12/2021 T mua ma túy để sử dụng, khi đi đến địa phận xóm 4, xã Khánh Thủy thì gặp tổ công tác của Công an Y kiểm tra và thu giữ toàn bộ số ma túy của T. Nói lời sau cùng bị cáo thấy hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người làm chứng đều không có khiếu nại gì; nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi của bị cáo và vật chứng đã thu giữ, nên có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 07 giờ 20 ngày 22/12/2021 tại đường trục xã thuộc địa phận xóm 4, xã K, tổ công tác của Công an xã Y đã kiểm tra và thu giữ trong túi áo của T đang mặc 01 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. T khai nhận đó là ma túy T mua về để sử dụng. Theo kết luận giám định tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của T là 0,1321 gam là ma túy, loại Heroine.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy đinh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

......

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Hành vi của bị cáo T là trái pháp luật, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng. Về giảm nhẹ, bị cáo “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung; bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” nên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh thể hiện, bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm “0,1321 gam là ma túy, loại Heroine; 01 xe mô tô nhãn hiệu FERVOR màu nâu biển kiểm soát 35FA-7185, số khung 02784 số máy 6002784”.

- Xe mô tô nhãn hiệu FERVOR biển kiểm soát 35FA-7185. Kết quả điều tra xác định số khung 02784 số máy 10224077 tên chủ xe là Nguyễn Thị L, chị L đã bán anh L1, anh L1 đã tự thay lốc máy của xe mô tô thành số máy hiện nay của xe mô tô là 6002784, anh L1 bán lại cho bị cáo T; nên xe mô tô là tài sản của T. T sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 0,1321 gam là ma túy, loại Heroine; sau giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình chỉ hoàn lại 0,0696 gam; vỏ giấy bạc màu trắng thu giữ ban đầu của T; vỏ phong bì thư niêm phong ký hiệu M và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; tất cả tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Đức T 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2021.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu FERVOR màu nâu, biển kiểm soát 35FA-7185, số khung 02784 số máy 6002784.

- Tịch thu tiêu hủy gồm 0,0696 gam ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, được niêm phong trong phong bì Công an tỉnh Ninh Bình bên ngoài có ghi nội dung “Số 55/KLGĐ-PC09-MT mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Trần Đức T”; vỏ gói giấy bạc màu trắng thu giữ ban đầu của T + vỏ phong bì thư niêm phong ký hiệu M được niêm phong trong phong bì Công an huyện Y ký hiệu N.

Tất cả vật chứng có đặc điểm tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ