vanban.org

Bản án 06/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bùi văn thích - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KHOÁI CHÂU
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---***---
Bản án số: 06/2022/HSST
Ngày: 21/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị T H.

- Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu H và bà Vũ Thị T.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Nhật L – Thư ký TA.

- Đại diện VKSND huyện Khoái Châu: Bà Lê Thị Th - KSV.

Hôm nay ngày 21/01/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2022/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/HSST-QĐXX ngày 10/01/2021 đối với bị cáo: Bùi V T, sinh năm 1983; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn V C, xã H T, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 06/12, Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Bùi Hữu L và bà Võ Thị T2; Anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: chưa;

Nhân thân:

+ Ngày 30/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 09/01/2012 (Có mặt tại phiên tòa).

+ Ngày 30/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xử phạt 07 năm 06 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 25/7/2018. (Có mặt tại phiên tòa).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên (Có mặt tại phiên tòa).

*/Những người làm chứng:

1. Ông Tạ Đăng H1, sinh năm 1965.

2. Bà Tạ Thị A, sinh năm 1966. Đều trú tại: thôn A L, xã Đ T, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

3. Bà Võ Thị Thao, sinh năm 1953; trú tại: thôn V C, xã H T, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/10/2021, Bùi V T, sinh năm 1983, trú tại thôn V C, xã H T, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên mang theo số tiền 200.000đ đi bộ từ nhà đến khu vực xã D T, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường 39A thuộc thôn Yên Lịch, xã D T, huyện Khoái Châu thì T gặp một người đàn ông lạ mặt, khoảng 40 tuổi, mặc quần áo tối màu, đeo khẩu trang đứng ở cạnh đường có biểu hiện giống người nghiện ma túy nên T đã tiến lại gần và hỏi: “Anh có hàng không bán cho em 200.000đ ?” (Mục đích của T muốn hỏi mua ma túy của người này). Người đàn ông đồng ý bán nên T lấy 200.000đ đưa cho người này rồi nhận lại 02 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột. T biết bên trong chứa ma túy nên không kiểm tra mà cầm ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay về tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi T đang đi bộ ở đoạn đường bê tông thuộc thôn A L, xã Đ T, huyện Khoái Châu thì bị lực lượng Công an huyện Khoái Châu phối hợp với Công an xã Đ T kiểm tra phát hiện bắt quả tang, niêm phong 02 gói giấy trên theo quy định. Tại bản Kết luận giám định số: 332/MT-PC09 ngày 24/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì niêm phong có tổng khối lượng là: 0,150 gam, là ma túy, loại Heroine. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng đối với 0,135 gam Heroine trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSKC, ngày 05/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu giữ nguyên Quyết định truy tố đối với Bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS; Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/10/2021; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T; Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định.

- Bị cáo T nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo ở mức án thấp nhất.

- Những người làm chứng là ông Tạ Đăng H1, bà Tạ Thị A và bà Võ Thị T2 đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án họ đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt họ tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào Điều 293 của BLTTHS vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Khoái Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS: Quá trình điều tra bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đã thừa nhận do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/10/2021, T mang theo số tiền 200.000đ đi mua ma túy để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Khoái Châu kết hợp Công an xã Đ T kiểm tra phát hiện bắt quả tang, niêm phong gói nilon trên theo quy định. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong; Biên bản mở niêm phong; Lời khai của những người làm chứng là Tạ Đăng Hiền, bà Tạ Thị Anh và bà Võ Thị Thao; Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/10/2021, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn A L, xã Đ T, huyện Khoái Châu, Bùi V T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,150 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Bùi V T theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 08/CT-VKSKC, ngày 05/01/2022 là có căn cứ.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo T gây nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ: Bị cáo đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được BLHS bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an. Bản thân bị cáo T nhận thức rất rõ tác hại của ma tuý, biết được tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã sẵn sàng vi phạm pháp luật, thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.

[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

.Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, từng hai lần bị đưa ra xét xử và kết án đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Hữu Lợi được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp lụât.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người khó cải tạo, đã từng nhiều lần bị kết án về cùng loại tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhưng bị cáo đã không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, lần phạm tội này cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và cũng là đáp ứng nhu cầu phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Từ những nhận định, phân tích nêu trên, HĐXX thấy rằng đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo T là có căn cứ, được HĐXX chấp nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng chứ không vì mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của BLHS, để phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS để xử lý vật chứng như sau:

- Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật chứng trong vụ án được nhà nước độc quyền quản lý, cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy 0,135 gam Heroine hoàn lại sau giám định.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu án phí HSST là 200.000đ theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi V T 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/10/2021.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 0,135 gam Heroine hoàn lại sau giám định.

(Tình trạng vật chứng như trong quyết định chuyển vật chứng số 06/ QĐ-VKC -KCngày 05/01/2022 của VKSND huyện Khoái Châu).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi V T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/01/2022).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ