vanban.org

Bản án 06/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 28/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Áp dụng điểm a khoản 02 Điều 260; điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51; các Điều 38, 54 BLHS. Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 06/2022/HSST Tuyên án 28/02/2022
Phúc thẩm Bản án 48/2022/HS-PT Tuyên án 05/07/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Bản án số: 06/2022/HSST.
Ngày: 28-02-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN D HUYỆN ĐẤT ĐỎ

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Qúy Cường.

Các Hội thẩm nhân D:

Bà Dương Thị Được.

Ông Nguyễn Văn Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai - Thư ký TAND huyện Đất Đỏ.

- Đại Dện Viện kiểm sát nhân D huyện Đất Đỏ: Bà Trần Minh Quế – Kiểm sát viên.

Ngày 28-02-2022, tại trụ sở TAND huyện Đất Đỏ xét xử vụ án hình sự thụ lý số 01/2022/HSST ngày 12/01/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm: 2003.

Trú tại: 1ô3/10 khu phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh BRVT.

Chỗ ở hiện nay: ấp Đ, xã A, huyện Đ, tỉnh BRVT.

Văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Làm biển.

Con ông Hoàng Anh T và bà Nguyễn Thị Ngọc H.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: ông Nguyễn Văn D – sinh năm 1975 (chết).

- Đại Dện hợp pháp cho bị hại:

+ Bà Đoàn Thị Bích L – sinh năm 1975 (có mặt).

- 1 -

Địa chỉ: tổ 3 khu phố P, thị Trấn H, huyện Đ.

+ Bà Thân Thị T – sn 1933 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện Đ.

Bà T ủy quyền cho bà L theo giấy ủy quyền ngày 22-11-2021.

- Người có quyền lợi liên quan: ông Nguyễn Thiên D – sn 1995 (có mặt).

Địa chỉ: 1Ô3/10 khu phố S, thị trấn H, huyện Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 18-7-2021, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen bạc, biển số 72H1-356.27 (không có giấy phép lái xe theo quy định) lưu thông theo hướng từ xã Phước Hội về xã Lộc An. Khi đến đường ven biển đoạn thuộc khu vực ấp Tân Hội, xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ, T điều khiển xe vượt qua xe mô tô không gắn biển số do ông Nguyễn Văn D điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước, không đảm bảo an toàn nên gây ra vụ tai nạn với xe mô tô của ông D.

Hậu quả: ông Nguyễn Văn D tử vong tại bệnh viện Bà Rịa vào ngày 19-7-2021; 02 xe mô tô hư hỏng.

Qua khám nghiệm hiện trường cho thấy: Vị trí hiện trường nằm trên một đoạn đường thẳng gần với ngã ba giao nhau với đường nông thôn, tầm nhìn không bị hạn chế. Hiện trường vụ tai nạn giao thông là trên đường ven biển đoạn thuộc khu vực ấp Tân Hội, xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ. Mặt đường là bê tông nhựa bằng phẳng, rộng 10,9m, là đường hai chiều được phân biệt bởi vạch sơn đứt quãng màu vàng, chiều đường từ xã Phước Hội về xã Lộc An rộng 5,3m gồm hai làn xe chạy, làn bên phải rộng 1,7m, làn bên trái rộng 3,6m được phân biệt bởi vạch sơn đứt quãng màu trắng. Chiều đường đi từ xã Lộc An về xã Phước Hội rộng 5,6m gồm hai làn xe chạy, làn bên phải rộng 1,9m, làn bên trái rộng 3,7m được phân biệt bởi vạch sơn đứt quãng màu trắng.

Chọn lề phải theo hướng đi từ xã Phước Hội về xã Lộc An làm lề chuẩn, chọn trụ điện 474LĐ/02/12F ở trong mép lề chuẩn làm điểm mốc cố định để đo vẽ, xác định được:

Sau tai nạn xe mô tô biển số 72H1-356.27 ngã sang trái, đầu xe hướng vào mép lề chuẩn, đuôi xe hướng qua lề trái. Tâm trục bánh trước và bánh sau lần lượt cách lề chuẩn là 8,3m và 9,5m. Xe 72H1-356.27 để lại vết cày 1 trên mặt đường, đầu vết cày vào lề chuẩn là 2,65m, vết cày đến xe 72H1-356.27 là 45,9m.

- 2 -

Sau tai nạn xe mô tô không biển số ngã sang trái nằm trên cỏ và mặt đất ở ngoài phần đường xe chạy, tâm trục bánh trước nằm trên mép lề chuẩn, tâm trục bánh sau ra lề chuẩn là 1,08m. Sau tai nạn xe mô tô không biển số để lại nhiều vết cày trên đường, cụ thể:

Vết cày 2 có chiều dài 6,47m, đầu vết cày 2 cách lề chuẩn 1,2m, điểm cuối vết cày 2 ra mép lề chuẩn là 0,55m. Đầu vết cày 2 đến xe mô tô không biển số là 10m.

Vết cày 3 có chiều dài 3,4m.đầu vết cày 3 cách lề chuẩn 1,1m, đuôi vết cày 3nằm trên mép lề chuẩn. Đầu vết cày 3 đến xe mô tô không biển số là 6,4m.

Khoảng cách giữa hai xe mô tô là 37,5m. Khoảng cách từ xe mô tô không biển số đến điểm mốc cố định là 5,45m.

Vị trí vật rơi (cần đạp số) có tâm vật rơi ra mép lề chuẩn là 0,5m, đến vị trí xe mô tô không biển số là 3,4m.

Vùng đụng được xác định cách cột mốc cố định 10,3m, cách đầu vết cày 1 là 2,6m, cách đầu vết cày 2 là 1,86m, cách đầu vết cày 3 là 5,46m, cách lề chuẩn 1,9m, cách xe 72H1-356.27 là 48,6m, cách xe không biển số là 11,85m.

Tại bản kết luận giám định pháp y số: 318/KLGĐ-PC09-PY ngày 14-8-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận: “Dấu hiệu chính qua giám định: Nguyễn Văn D có xây sát da kèm bầm máu lưng trái, kích thước 9 x 1,5cm. Tụ máu rải rác trong cơ vùng hông - lưng trái. Gãy 1/3 giữa xương ức. Tụ máu mặt trước màng ngoài tim. Dập rải rác phổi trái. Tràn máu khoang bụng. Vỡ nát lách. Nguyên nhân chết: Nguyễn Văn D chết do chấn thương ngực - bụng, gãy xương ức, dập phổi, vỡ nát lách, xuất huyết nội. Vật tác động gây chết là vật tày, diện tiếp xúc rộng, tác động trực tiếp vào vùng ngực - bụng cơ thể nạn nhân theo chiều từ trước ra sau, chếch từ trái qua phải”.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường cũng như các tài liệu chứng cứ đã thu thập cho thấy nguyên nhân chính xảy ra tai nạn trên là do Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 72H1-356.27 không có giấy phép lái xe theo quy định; vượt xe không đảm bảo an toàn như vượt xe không có tín hiệu đèn, còi, vượt xe khác trong điều kiện trời tối, trời mưa và trơn trượt. Hành vi đó đã vi phạm vào khoản 9, Điều 8; khoản 1 và điểm đ, khoản 5, Điều 14 Luật Giao thông đường bộ.

Qua điều tra ông Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định. Hành vi của ông D đã vi phạm quy định tại khoản 9, Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, lỗi này là vi phạm hành chính, không phải nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn.

Khoản 9, Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định: Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định. Điều khiển xe máy chuyên dùng tham

- 3 - gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng.

Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định:

Khoản 1: Xe vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu D cư từ 22 giờ đến 05 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

Điểm đ, khoản 5: Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây. Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không đảm bảo an toàn cho việc vượt.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 32.000.000đ. Hiện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường thêm về phần dân sự, đã làm đơn bãi nại và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.

- Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ thu giữ tang vật gồm: 01 xe mô tô biển số 72H1-356.27 và 01 xe mô tô không biển số (SK: VDEDCG055DE500791; SM: VDELC150FMG500791).

Qua xác minh 01 xe mô tô biển số 72H1-356.27 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thiên D (là anh của T), ngày 18-7-2021 T tự ý lấy xe của D đi và gây tai nạn, anh D không biết. Ngày 08-11-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại xe 72H1-35627 cho anh D.

Công an huyện Đất Đỏ đã gửi giám định số khung, số máy đối với 01 xe mô tô không biển số của ông D. Tại Bản kết luận giám định số 355/KLGĐ-PC09-SKSM, ngày 08/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: “01 xe mô tô không biển số có SK: VDEDCG055DE500791; SM: VDELC150FMG500791 là số nguyên thủy”. Qua tra cứu trên hệ thống phần mềm đăng ký quản lý phương tiện của Cục Cảnh sát giao thông thì không tìm thấy thông tin đăng ký liên quan đến xe không biển số (SK: VDEDCG055DE500791; SM: VDELC150FMG500791) như trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã chuyển 01 xe mô tô không biển số (SK: VDEDCG055DE500791; SM: VDELC150FMG500791) đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ để tạm giữ chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 12-01-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 02 Điều 260 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 02 điều 260, điểm b, s khoản 01, khoản 02 điều 51, Điều 38, 54 BLHS xử phạt b/c T với mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội

- 4 - của mình như quyết định truy tố của Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX cho b/c mức án nhẹ để sớm được trở về với gia đình. Còn người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm án cho b/c T.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Qua lời khai nhận của b/c tại phiên tòa đối chiếu với lời khai đại diện hợp pháp cho bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Trên cơ sở đó xác định: b/c T điều khiển xe mô tô lưu thông trên tuyến đường ven biển của huyện Đất Đỏ, khi đến khu vực thuộc ấp Tân Hội, xã Phước Hội b/c T cho xe mình vượt qua xe mô tô do ông Nguyễn Văn D điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước nhưng không đảm bảo an toàn để gây ra tai nạn với xe của ông D dẫn đến hậu quả ông Nguyễn Văn D tử vong.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn: b/c T điều khiển xe mô tô vượt lên xe mô tô phía trước cùng chiều không đảm bảo an toàn do không có tín hiệu đèn, còi, vượt xe khác trong điều kiện trời tối, trời mưa đường trơn trượt (vi phạm theo quy định tại khoản 1 và điểm đ, khoản 5, Điều 14 Luật giao thông đường bộ) và làm chết 01 người nên b/c T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này b/c T điều khiển xe khi không có giấy phép lái xe nên đã vi phạm vào điểm a khoản 02 điều 260 BLHS. Vì vậy VKSND huyện Đất Đỏ truy tố b/c T theo điểm, khoản, Điều nêu trên của BLHS là có cơ sở và đúng pháp luật.

Hành vi của b/c T thuộc trường hợp nghiêm trọng vì đã xâm phạm đến tính mạng người khác được pháp luật bảo vệ, vi phạm trật tự an toàn xã hội nên b/c phải bị xử lý trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tương xứng với tính chất, hậu quả mà b/c gây ra nhằm giáo dục và phòng ngừa. Trong vụ án này b/c không có tình tiết tăng nặng nhưng có các tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu; thật thà khai báo ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả; đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn yêu cầu xin giảm án cho b/c theo điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 BLHS nên căn cứ vào các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho b/c khi lượng hình. Do b/c có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 01 Điều 51

- 5 - BLHS nên áp dụng Điều 54 BLHS để cho b/c được hưởng mức án dưới khung hình phạt là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: b/c đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và đại diện hợp pháp cho bị hại không còn yêu cầu gì nên không xét đến.

Xử lý tài sản tạm giữ: Chiếc xe mô tô không biển số do bị hại Nguyễn Văn

D

điều

khiển

có

SK:

VDEDCG055DE500791;

SM: VDELC150FMG500791; không có biển số và giấy tờ theo quy định. Qua tra cứu trên hệ thống phần mềm đăng ký quản lý phương tiện của Cục Cảnh sát giao thông không tìm thấy thông tin đăng ký liên quan nên chiếc xe trên được giao cho Công an huyện Đất Đỏ xử lý theo thẩm quyền.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Áp dụng điểm a khoản 02 Điều 260; điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51; các Điều 38, 54 BLHS.

Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo chấp hành án.

[3] Tài sản tạm giữ: áp dụng Điều 106 BLTTHS, giao cho Công an huyện Đất Đỏ xử lý theo thẩm quyền 01 xe mô tô không biển số, có SK: VDEDCG055DE500791; SM: VDELC150FMG500791. (Chi cục thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ đang tạm giữ theo biên bản số 14/BB ngày 12-01-2022).

[4] Án phí: bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST.

[5] Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ các Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày (đối với người vắng mặt thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết); Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thì có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

- 6 -

Cỡ chữ