vanban.org

Bản án 06/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn N H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn N H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày 29/4/2021. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói mang số vụ 2904/2021 có chữ k niêm phong của giám định viên và điều tra viên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn N H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TH NH PH H CH MINH
Bản án số: 06/2022/HSST
Ngày: 14/01/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI TH NH PH H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Bé.

2. Ông Nguyễn Văn Rồi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư k T a án nh n d n huy n Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n C Chi, Thành ph Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huy n Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ l số: 206/2021/HSST, ngày 28 tháng 9 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2021/QĐST-HS ngày 08/11/2021; Quyết định hoãn phiên t a số: 89/2021/QĐST-HS ngày 03/12/2021 và Quyết định hoãn phiên t a số: 101/2021/QĐST-HS ngày 31/12/2021 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn N H; Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam; Sinh năm: 1995 tại tỉnh BT.

Nơi cư trú: Khu phố 1 thị trấn LH huy n TP tỉnh BT; Chỗ ở: Ấp 2, xã BM,

huy n Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc tịch: Vi t Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 8/12.

Nghề nghi p: Làm thuê.

Cha: Nguyễn Ngọc Hồng sinh năm 1970; Mẹ: Đào Thị Dững sinh năm 1963.

Anh chị em: Không có.

Vợ con: Chưa có.

Tiền án tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ t ngày 29/4/2021 đến nay.

Bị cáo hi n có mặt tại phiên t a.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn P T Đ sinh năm: 1985; (vắng mặt)

Thường trú: khu phố 6 phường PL thị xã L tỉnh BT.

Địa chỉ: ấp 2 xã BM huy n Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/4/2021 Nguyễn N H sử dụng chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart Joy 3 của Khương nhắn tin thông qua mạng xã hội vào tài khoản zalo có tên DQ12 của một người nam thanh niên tên T (không rõ lai lịch) để hỏi mua chất ma túy với số tiền là 200.000 đồng thì T đồng và hẹn địa điểm giao tiền nhận chất ma túy tại khu vực ngã tư đường Nguyễn Ảnh Thủ – Tô K thuộc Quận 12 TP. Hồ Chí Minh. Thỏa thuận xong H điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Dream biển số 53S2-9682 đi t ph ng trọ của Hào tại địa chỉ ấp 2 xã Bình Mỹ huy n Củ Chi TP. Hồ Chí Minh đến địa điểm hẹn. Khi đến nơi H nhìn thấy có một người nam thanh niên đứng đợi sẵn nên đi đến đưa cho người này số tiền là 200.000 đồng người này nhận lấy số tiền 200.000 đồng của Hào và đưa lại cho H 01 (một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu là chất ma túy rồi bỏ đi. H cầm lấy gói ma túy cất giấu vào bên trong túi quần jeans phía trước bên phải của H đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến đoạn đường Võ Văn Bích thuộc tổ 2 ấp 8 xã Bình Mỹ huy n Củ Chi TP. Hồ Chí Minh, H d ng xe mô tô trên lề đường để trả lời tin nhắn đi n thoại thì bị lực lượng Công an xã Bình Mỹ huy n Củ Chi TP. Hồ Chí Minh kiểm tra phát hi n trong túi quần jeans phía trước bên phải của H đang mặc có 01 (một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu là chất ma túy nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Ngọc Hào về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy lúc 00 giờ 10 phút ngày 29/4/2021.

Tiến hành khám xét khẩn chấp chỗ ở đồ vật tài li u của Nguyễn N H tại địa chỉ ấp 2 xã BM huy n Củ Chi TP. Hồ Chí Minh không phát hi n thu giữ gì thêm (BL 23).

Kết luận giám định số 2904/KLGĐ-MT ngày 07/5/2021 của Ph ng kỹ thuật hình sự thuộc Công an Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0 1594 loại Methamphetamine.

Kết quả xét nghi m chất ma túy qua nước tiểu của Nguyễn N H xác định Hào dương tính với chất ma túy tổng hợp.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu là chất ma túy được niêm phong trong 01 (một) gói mang số vụ 2904/2021 có chữ k niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra.

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Dream biển số 53S2-9682 số máy: C100MNE0211258 số khung: C100MN0211258 đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart Joy 3 màu trắng số Imei 1: 351726112524165 số Imei 2: 351726112524173 đã qua sử dụng.

(Vật chứng hi n đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc đội cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Nhà tạm giữ công an huy n Củ Chi).

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận thực hi n hành vi như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 204/CT-VKS ngày 22/9/2021 của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Củ Chi đã truy tố ra trước T a án nh n d n huy n Củ Chi để xét xử Nguyễn N H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng h a xã hội chủ nghĩa Vi t Nam.

Tại phiên t a, bị cáo đã th a nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bị cáo trình bày: Bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy vào khoảng tháng 10/2020 02 tuần sử dụng 01 lần 01 lần sử dụng khoảng 200.000 đồng bị cáo thường sử dụng 01 mình ở khách sạn hay ph ng trọ của bị cáo. Chiếc xe honda biển số 53S2 – 9682 là xe của ông Nguyễn P T Đ ông chủ của bị cáo. Bị cáo làm nghề cửa sắt thường làm vi c ở công trình xa nơi ở của bị cáo nên ông Đ cho bị cáo mượn chiếc xe máy trên để đi làm ông Đức không biết bị cáo dùng xe này để đi mua ma túy.

Tại phiên t a đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ.

Vào lúc 00 giờ 10 phút ngày 29/4/2021 tại đoạn đường Võ Văn Bích thuộc tổ 2 ấp 8 xã Bình Mỹ huy n Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn N H đang tàng trữ trái phép 0 1594 gam là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an xã Bình Mỹ huy n Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang cùng tang vật. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn N H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên t a bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án tiền sự: không. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn N H t 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Đối với người nam thanh niên tên T là người đã bán chất ma túy cho bị can Nguyễn N H, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi không xác định được nh n th n lai lịch nên không có cơ sở để xử l .

Về xử l vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói mang số vụ 2904/2021 có chữ k niêm phong của giám định viên và điều tra viên.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart Joy 3 màu trắng số Imei 1: 351726112524165 số Imei 2: 351726112524173 đã qua sử dụng.

Hoàn trả cho ông Đ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Dream biển số 53S2-9682 số máy: C100MNE0211258 số khung: C100MN0211258 đã qua sử dụng.

Bị cáo Nguyễn N H không tranh luận không tự bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và làm lại t đầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi tranh luận tại phiên t a Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Củ Chi Điều tra viên Vi n kiểm sát nh n d n huy n Củ Chi Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo không có kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

[2] Tại phiên t a bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ có tại hồ sơ, kết luận giám định số 2904/KLGĐ-MT ngày 07/5/2021 của Ph ng kỹ thuật hình sự thuộc Công an Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0 1594 loại Methamphetamine. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn N H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Vi n trưởng Vi n kiểm sát nh n d n huy n Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Bị cáo H là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hi n. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã x m phạm các quy định của Nhà nước về quản l dược li u dược phẩm độc hại g y mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận xấu trong nh n d n. Bị cáo nhận thức được vi c tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghi n bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét mức độ hành vi phạm tội các tình tiết tăng nặng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự của bị cáo để có một hình phạt tương xứng.

Bị cáo là người thành niên nhận thức rõ hành vi của mình là sai bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hi n. Trong quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: không; Tiền sự: không. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017) khi lượng hình là có cơ sở chấp nhận.

Đối với người nam thanh niên tên T là người đã bán chất ma túy cho bị can Nguyễn N H quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi không xác định được nh n th n lai lịch nên không có cơ sở để xử l . Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về xử l vật chứng:

Đối với 01 (một) gói mang số vụ 2904/2021 có chữ k niêm phong của giám định viên và điều tra viên. Hội đồng xét xử xét thấy đ y là vật cấm mua bán tàng trữ vận chuyển nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart Joy 3 màu trắng số Imei 1: 351726112524165 số Imei 2: 351726112524173, là phương ti n bị cáo dùng để mua ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Dream biển số 53S2-9682 số máy: C100MNE0211258 số khung: C100MN0211258 là phương ti n bị cáo dùng để đi mua ma túy xe này bị cáo khai được ông Đ cho mượn để đi lại; Chủ sở hữu chiếc xe là bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa cho biết xe này bà đã bán cho ông Đ với giá là 9.500.000 đồng nhưng không làm thủ tục sang tên; Ông Đ cho bị cáo mượn để làm phương ti n đi lại ông Đ không biết bị cáo dùng xe này để phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần hoàn trả xe này lại cho ông Đ là phù hợp.

Tại phiên t a đại di n Vi n kiểm sát nh n d n huy n Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 204/CT-VKS ngày 22/9/2021 của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn N H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử l vật chứng như nhận định nêu trên xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn N H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn N H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày 29/4/2021.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói mang số vụ 2904/2021 có chữ k niêm phong của giám định viên và điều tra viên.

Tịch thu nộp Ng n sách Nhà nước: 01 (một) chiếc đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart Joy 3 màu trắng số Imei 1: 351726112524165 số Imei 2: 351726112524173 đã qua sử dụng.

Hoàn trả cho ông Nguyễn P T Đ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Dream biển số 53S2-9682 số máy: C100MNE0211258 số khung: C100MN0211258 đã qua sử dụng.

Vật chứng tài sản nêu trên được li t kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 159/PNK ngày 05/8/2021 và phiếu nhập kho vật chứng số: 143/PNK ngày 21/7/2021 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 33, 34)

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

- Án phí HS-ST: Bị cáo Nguyễn N H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn N H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày T a tuyên án. Ông Đ vắng maët coù quyeàn khaùng caùo trong thôøi haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy baûn aùn ñöôïc giao hoaëc ñöôïc nieâm yeát.

Cỡ chữ