- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác: Tây) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HS-ST Ngày 27-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Minh Lắm
Ông Dương Đức Tính
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D; tên gọi khác: T; sinh năm 1990 tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; ĐKHKTT: ấp Ô, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: ấp 3, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: làm biển; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ty (chết) và bà Nguyễn Thị Tư; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 18/7/2021; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/7/2021, tại cống Biện Nhị thuộc ấp 2, xã Khánh Hội, trong lúc thực hiện tuần tra theo kế hoạch nhằm đảm bảo an ninh trật tự, kịp thời ngăn chặn các tội phạm liên quan đến tệ nạn ma túy, phòng chống xuất nhập cảnh trái phép trên địa bàn xã Khánh Hội, Tổ công tác của Đồn Biên phòng Khánh Hội phát hiện đối tượng Nguyễn Văn D có biểu hiện nghi vấn nên đã mời đối tượng về Đồn Biên phòng Khánh Hội làm việc. Qua kiểm tra trên người đối tượng phát hiện các tang vật như sau:
- 01 ống nhựa trong suốt có chứa tinh thể dạng rắn màu trắng nghi là ma túy được cất giấu trong chiếc ví da màu đen, để trong túi quần Jean phía trước bên phải D đang mặc.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu BonTel màu đen, viền vàng; Imei 1: 359517074823243; Imei 2: 359517074823250; gắn sim số 0911.198.530.
- Tiền Việt Nam đồng trị giá 448.000 đồng.
Đồn Biên phòng Khánh Hội đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn D, thu giữ niêm phong tang vật và chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D đã khai nhận do có quen biết từ trước nên vào khoảng 16 giờ ngày 15/7/2021 D đi đến nhà của ông Lâm Chí Tâm (tên gọi khác là Thân, Tân què) ở ấp 3 xã Khánh Hội uống cà phê. Một lúc sau ông Tâm gọi D vào trong phòng, đưa D 01 tép ma túy nói là cho D để dành sử dụng. Sau đó D để ma túy vào trong ống nhựa và cất vào bên trong chiếc ví da màu đen của mình. Đến khoảng 19 giờ ngày 18/7/2021 D tiếp tục đến nhà ông Tâm, có đem theo chiếc ví da màu đen bên trong có cất số ma túy do ông Tâm đã cho trước đó. Khi đến nơi, D được Nghị là người làm của Tâm dùng xe mô tô chở đi giao ma túy. Khi đến khu vực cống Biện Nhị thì D xuống xe để quan sát xung quanh, còn Nghị ngồi trên xe liên lạc với người mua ra nhận ma túy. Khoảng 5 phút sau, D bị Tổ công tác phát hiện và mời về làm việc còn Nghị điều khiển xe mô tô bỏ chạy.
Tại bản kết luận giám định số 162/GĐH-PC09 ngày 21/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1004 gam.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 08/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, nhận thấy hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: về trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ gồm 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1, có chữ ký và chữ viết của Trịnh Chí Thanh và Dương Hải Đăng, có đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong có một đoạn ống nhựa màu trắng; 01 ví da màu đen, mặt ngoài có chữ H2; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu BonTel, màu đen, viền vàng; Imei 1: 359517074823243; Imei 2: 359517074823250; gắn sim số 0911.198.530.
Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Văn D đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm về nuôi dưỡng mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó cơ sở xác định vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/7/2021, tại cống Biện Nhị thuộc ấp 2, xã Khánh Hội, trong khi đang quan sát xung quanh để đối tượng Nghị ngồi trên xe liên lạc với người mua ra nhận ma túy, bị cáo D bị Tổ công tác phát hiện và mời về làm việc còn Nghị điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Qua kiểm tra trên người D có 01 ống nhựa trong suốt có chứa tinh thể dạng rắn màu trắng nghi là ma túy cùng một số tang vật khác.
Tại bản kết luận giám định số 162/GĐH-PC09 ngày 21/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1004 gam.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 08/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
. Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn nhu cầu về ma túy cho bản thân. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên Hội đồng xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng mức án khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, sửa chữa sai lầm.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 ví da màu đen, mặt ngoài có chữ H2 bị cáo dùng để đựng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1, có chữ ký và chữ viết của Trịnh Chí Thanh và Dương Hải Đăng, có đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong có một đoạn ống nhựa màu trắng hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu BonTel, màu đen, viền vàng; Imei 1: 359517074823243; Imei 2: 359517074823250; gắn sim số 0911.198.530, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không sử dụng điện thoại này vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 448.000 đồng đã thu giữ của bị cáo lúc bắt quả tang, do không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.
. Đối với Lâm Chí Tâm (tên gọi khác Thân, Tâm què), quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh Tâm đã đưa ma túy cho D sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh không xử lý hình sự đối với Tâm là phù hợp.
Đối với đối tượng Nghị, do D không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ chính xác, đồng thời quá trình điều tra chưa phát hiện đối tượng này nên Cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp nên chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác: Tây) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác: T) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 18/7/2021.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1, có chữ ký và chữ viết của Trịnh Chí Thanh và Dương Hải Đăng, có đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong có một đoạn ống nhựa màu trắng; 01 ví da màu đen, mặt ngoài có chữ H2.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu BonTel, màu đen, viền vàng; Imei 1: 359517074823243; Imei 2: 359517074823250; gắn sim số 0911.198.530.
Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện U quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2021.
4. Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5. Về trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh; - Công an huyện U Minh; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện U; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Ý |