vanban.org

Bản án 06/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hồng T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TL
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HS-ST
Ngày: 20 - 01 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hà và bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Thế Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Hoàng Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2021/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:

+ Phạm Hồng T - sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn 1, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng T (đã chết) và bà Phạm Thị H (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 09/7/1992 bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 04 năm tù về tội "Cướp tài sản của công dân", ngày 24/6/2003 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội "Mua bán phụ nữ", ngày 27/10/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 11/5/2016 bị Công an huyện GV, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành C 500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2021 đến ngày 12/8/2021 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn C, xã Thanh H, huyện TL, tỉnh Hà Nam, có mặt.

- Người chứng kiến: anh Trần Văn H1 - sinh năm 1978; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h00' ngày 03/8/2021, tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện TL phối hợp với Công an xã Thanh H làm nhiệm vụ tại chốt kiểm dịch số 2 thuộc thôn Thanh Khê, xã Thanh H, huyện TL phát hiện hai đối tượng đang điều khiển xe máy có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác kiểm tra thì hai đối tượng bỏ chạy, tiến hành truy đuổi đến đường làng thuộc thôn C, xã Thanh H thì khống chế được. Tổ công tác kiểm tra phát hiện thu giữ 01 gói giấy bạc mầu vàng bên trong có chứa chất bột mầu trắng dạng cục (T khai là Heroine) tại phía bên trong giữa phần xốp và vải của mũ bảo hiểm T đang đội; kiểm tra khu vực xung quanh nơi bắt giữ hai đối tượng phát hiện và thu giữ 01 gói giấy bạc mầu vàng bên trong có chứa chất bột mầu trắng dạng cục (nghi là Heroine) tại bồn cây cảnh phía bên trong bờ tường nhà ông Nguyễn Văn Thái. Tổ công tác đã đưa hai đối tượng cùng tang vật về nhà văn hóa thôn C, xã Thanh H lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: 01 gói giấy bạc mầu vàng bên trong có chứa chất bột mầu trắng dạng cục thu tại mũ bảo hiểm của Phạm Hồng T đang đội, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 gói giấy bạc mầu vàng bên trong có chứa chất bột mầu trắng dạng cục thu tại bồn cây cảnh phía trong bờ tường nhà ông Nguyễn Văn Thái, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu mầu đỏ nhãn hiệu Asia thu giữ của Phạm Hồng T; 01 xe máy nhãn hiệu Wave mầu đỏ biển kiểm soát 35N1-488.54 của Phạm Hồng T; 01 ví mầu đen bên trong có 500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme mầu xanh của Phạm Hồng T được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03; thu giữ 01 xi lanh của Nguyễn Văn C, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung mầu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT04, 01 ví mầu đen bên trong có 332.000 đồng của Nguyễn Văn C; thu giữ mẫu nước tiểu của Phạm Hồng T và Nguyễn Văn C niêm phong ký hiệu lần lượt là M1, M2. Ngoài ra còn thu giữ mẫu tóc để phục vụ giám định gen (ADN) của Phạm Hồng T và Nguyễn Văn C.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Hồng T ở thôn 1, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TL không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hồng T khai nH1:

Khoảng 08 giờ ngày 03/8/2021, Phạm Hồng T một mình điều khiển mô tô BKS 35N1 - 488.54 đi từ nhà ở thôn 1, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình đến nhà anh Nguyễn Văn C rủ đi sang quê ngoại T ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định chơi thì C đồng ý; T bảo C điều khiển xe mô tô BKS 35N1-488.54 chở T. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa pH1 huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, thì T nhìn thấy người đàn ông đang đứng bên đường (T không quen biết), nH1 ra là người đã bán ma túy cho mình 02 lần trước đó nên có nhu cầu mua ma túy để sử dụng. Khi cả hai đã đi qua chỗ người đàn ông đang đứng khoảng 100m thì T bảo C dừng xe lại rồi bảo C xuống xe đứng đợi, còn T một mình điều khiển xe mô tô BKS 35N1-488.54 quay lại đi đến gần chỗ người đàn ông đang đứng và hỏi “Có hàng không, để cho tôi một trăm", ý T hỏi mua ma túy Heroine để sử dụng, người này nói “Có" thì T lấy từ trong túi quần ra 100.000 đồng đưa cho người này. Người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho T 01 gói giấy bạc màu vàng, biết là ma túy cần mua nên T cầm rồi mở ra chia gói ma túy vừa mua được thành 02 gói sau đó bọc lại, cất 01 gói vào vị trí giữa lớp xốp và lớp vải của chiếc mũ bảo hiểm đang đội trên đầu, gói còn lại T cầm trong tay pH rồi điều khiển xe mô tô quay lại vị trí C đang đứng đợi và bảo C chở T quay về. Trên đường về T nói với C “Tao có hàng, mày có chơi không", hiểu ý T rủ sử dụng ma túy, song do C đang dùng thuốc chữa bệnh nên C trả lời “Không". Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi cả hai đi đến khu vực Chốt kiểm dịch số 2 thuộc địa pH1 thôn Thanh Khê, xã Thanh H, huyện TL thì tổ công tác Đội Cảnh sát Giao thông trật tự - Công an huyện TL phối hợp với Công an xã Thanh H làm nhiệm vụ kiểm soát dịch bệnh yêu cầu dừng xe để khai báo y tế thì C không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của lực lượng Công an mà vẫn điều khiển xe mô tô chở T đi tiếp qua chốt kiểm dịch. Lực lượng Công an tiến hành đuổi theo để yêu cầu chấp hành, đến khu vực đường làng thuộc địa pH1 thôn C, xã Thanh H, huyện TL, tỉnh Hà Nam, thì lực lượng Công an đuổi kịp, T ném gói ma túy đang cầm trong tay pH ra phía sau bức tường nhà ông Nguyễn Văn Thái rồi bỏ chạy được khoảng 05m thì bị lực lượng Công an khống chế, kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 174/PC09-MT ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

"Không tìm thấy các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa trong các mẫu nước tiểu ký hiệu M1, M2 gửi giám định".

Tại bản kết luận giám định số 175/PC09 - MT ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận:

"- Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong kì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,126g (Không phẩy một trăm hai mươi sáu gam), loại: Heroine.

- Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong kì ký hiệu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,051g (Không phẩy không trăm năm mươi mốt gam), loại: Heroine"

Tại bản kết luận giám định số 7224/C09-TT3 ngày 22/10/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

“Không phân tích được kiểu gen (ADN) từ dấu vết nghi bám dính ADN người trên mảnh giấy bạc màu vàng do chất lượng dấu vết kém".

Bản cáo trạng số 06/CT-VKSTL ngày 30/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Phạm Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: T bố bị cáo Phạm Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự - Xử phạt Phạm Hồng T từ 30 đến 36 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01, QT02; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu mầu đỏ nhãn hiệu Asia; 01 xi lanh; bao gói mẫu nước tiểu hoàn lại sau giám định (bao gói mẫu vật hoàn trả số 174/PC09-MT);

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Wave mầu đỏ có biển kiểm soát 35N1-488.54;

Trả lại cho Phạm Hồng T 01 ví mầu đen, số tiền 500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme mầu xanh đã qua sử dụng;

Trả lại cho Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung mầu đen đã qua sử dụng, 01 ví mầu đen và số tiền 332.000 đồng;

- Bị cáo Phạm Hồng T thành khẩn khai nH1 toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn C không có ý kiến gì.

NH1 ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH1 định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà, Phạm Hồng T đã khai nH1 toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với C lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 09 giờ ngày 03/8/2021, tại khu vực đường làng thuộc thôn C, xã Thanh H, huyện TL, tỉnh Hà Nam, tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện TL phối hợp với Công an xã Thanh H kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Phạm Hồng T tàng trữ trái phép 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa 0,126g ma túy loại Heroine ở cất giấu trong mũ bảo hiểm T đang đội và 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa 0,051g ma túy loại Heroine tại lòng bàn tay pH, khi bị lực lượng Công an phát hiện, truy đuổi T đã ném ra khu vực phía sau bức tường nhà ông Nguyễn Văn Thái thì bị phát hiện, thu giữ. Tổng khối lượng ma túy mà T tàng trữ trái phép là 0,177 gam loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi tàng trữ trái phép Heroine của Phạm Hồng T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến C sách của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, đã nhiều lần bị kết án về các tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, tuy đã được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội, thể hiện rõ thái độ coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

- Hình phạt C: Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ lưu hành, 01 mũ bảo hiểm T dùng cất giấu ma túy, bao gói mẫu nước tiểu hoàn trả sau giám định không có giá trị; 01 xi lanh thu giữ của Nguyễn Văn C xin về để tiêm cho chó, không đề nghị nH1 lại, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 xe mô tô BKS 35N1-488.54, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo được sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, 01 ví giả da và số tiền 500.000 đồng là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Phạm Hồng T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, 01 ví giả da và số tiền 332.000 đồng là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Văn C, các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Phạm Hồng T và anh Nguyễn Văn C.

Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và người đã bán ma túy cho Phạm Hồng T, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL đã đã tập trung đấu tranh, song T không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể cũng như đặc điểm nH1 dạng của người này. Ngoài lời khai của T, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện TL không có căn cứ để xác minh làm rõ nguồn gốc số ma túy cũng như đối tượng đã bán ma túy cho T để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn C, qua điều tra xác định C không biết việc T đi mua ma túy, cũng không nhìn thấy việc T cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện TL không có căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn C với vai trò đồng phạm hoặc hành vi “Không tố giác tội phạm" là có căn cứ.

Đối với hành vi T khai đã 02 lần mua ma túy của người đàn ông ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, song Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL không thu giữ được vật chứng để xác định loại ma túy, trọng lượng cụ thể, do đó không có căn cứ để xác định tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên" là đúng pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo pH nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

T bố: bị cáo Phạm Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Phạm Hồng T 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là 03/8/2021.

- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01, QT02; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu mầu đỏ nhãn hiệu Asia; 01 xi lanh; mẫu nước tiểu hoàn lại sau giám định (bao gói mẫu vật hoàn trả số 174/PC09-MT).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Wave mầu đỏ của Phạm Hồng T có biển kiểm soát 35N1-488.54.

Trả lại cho Phạm Hồng T 01 ví mầu đen, số tiền 500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme mầu xanh đã qua sử dụng.

Trả lại cho Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung mầu đen đã qua sử dụng, 01 ví mầu đen và số tiền 332.000 đồng.

(Chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nH1 vật chứng ngày 04/01/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL. Số tiền theo ủy nhiệm chi số 01 ngày 05 tháng 01 năm 2022 tại Kho bạc Nhà nước huyện TL).

3. Án phí: bị cáo Phạm Hồng T pH nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày T án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./. Nơi nH1:

Cỡ chữ