vanban.org

Bản án 06/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 22/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Trường S phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lâm Trường S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Lâm Trường S cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Trường S phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HS-ST
Ngày 22-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Phúc

Bà Nguyễn Thị Liệp

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thà - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2022 đối với:

- Bị cáo Lâm Trường S, sinh năm 1950; tên gọi khác: Không; nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn S (chết) và bà Võ Thị Q (chết); có vợ Châu Thị B, sinh năm 1957 và có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án: Không; tiền sự: ngày 15/4/2021, Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc đặt cược tài xỉu ăn thua bằng tiền (ngày 23/4/2021 nộp phạt xong); tạm giữ: Không; tạm giam: không; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 53/LCĐKNCT, ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Công an huyện T.

Bị cáo hiện đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Văn C, sinh năm 1953, có đơn xin vắng mặt.

2. Nguyễn Thị U, sinh năm 1979, vắng mặt.

3. Lương Văn B, sinh năm 1988, vắng mặt.

4. Nguyễn Thị L, sinh năm 1981, vắng mặt.

5. Lê Thị N, sinh năm 1987, vắng mặt.

6. Đặng Thị T, sinh năm 1948, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2.2. Người làm chứng: Châu Thị B, sinh năm 1957, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/01/2021, Lâm Trường S tham gia đánh bạc dưới hình thức đặt cược tài xỉu được thua bằng tiền tại ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, bị Công an huyện T bắt quả tang. Do không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, đến ngày 15/4/2021 Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng đối với S về hành vi nêu trên, S không có khiếu nại, khởi kiện quyết định xử phạt hành chính, đến ngày 23/4/2021 nộp phạt xong. Tiếp tục vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 01/7/2021, Công an xã P, huyện T tiến hành bắt quả tang Lâm Trường S cùng với các đối tượng khác đang tham gia đánh bạc hình thức bài binh 06 lá được thua bằng tiền tại khu đất trống thuộc ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Tang vật thu giữ tại chiếu bạc gồm: tiền Việt Nam 200.000đồng; 03 bộ bài tây loại 52 lá, trong đó có 01 bộ đã qua sử dụng, 02 bộ chưa sử dụng.

Thu giữ trên người các đối tượng là 13.170.000đồng, không đủ cơ sở chứng minh sử dụng vào mục đích đánh bạc, đã trao trả lại xong.

Kết quả điều tra xác định: vào khoảng 14 giờ, ngày 01/7/2021, bị cáo Lâm Trường S đi bộ từ nhà mình đến khu đất trống thuộc ấp L, xã P (cách nhà bị cáo khoảng 150 mét) thấy có một nhóm người đang tham gia đánh bạc hình thức bài binh 6 lá được thua bằng tiền nên bị cáo vào tham gia. Bị cáo S thấy ông Nguyễn Văn C đang tham gia 01 tụ bài, nên bị cáo xin hùn với ông C cùng đặt một tụ bài số tiền 100.000đồng (bị cáo 50.000 đồng, Cam 50.000 đồng), ông C thống nhất. Bị cáo cùng với ông C tham gia 03 ván bài, ván thứ nhất thắng được 100.000 đồng, ván thứ 2 thua 100.000 đồng, ván thứ 3 cũng đặt một tụ với số tiền 100.000 đồng, nhưng chưa kịp xem bài thì bị lực lượng Công an đến bắt quả tang. Ngoài bị cáo S còn 05 đối tượng thừa nhận tham gia đánh bạc cùng với bị cáo. Tụ điểm đánh bạc do Nguyễn Thị L tổ chức lấy tiền xâu.

Tại Cáo trạng số: 04/CT-VKS-TN ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Lâm Trường S phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và khẳng định cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, o, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Lâm Trường S, phạm tội "Đánh bạc” hình phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Tình tiết tăng nặng: Không. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Giữ nguyên theo Cáo trạng.

- Bị cáo Lâm Trường S khai: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Đánh bạc” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm pháp quả tang ngày 01/07/2021 của Công an xã P, huyện T; Tờ tự khai ngày 01/7/2021 của bị cáo; Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/4/2021 bị cáo Lâm Trường S bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (ngày 23/4/2021 nộp phạt xong). Tiếp tục ngày 01/7/2021 bị cáo S bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc dưới hình thức bài binh 06 lá được thua bằng tiền, số tiền thu trên chiếu bạc là 200.000 đồng.

Tuy số tiền thu giữ tại chiếu bạc không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng bản thân bị cáo S đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đến ngày 01/7/2021 chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng tiếp tục vi phạm. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất ổn định an ninh trật tự ở địa phương, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh Bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức hình phạt theo điều luật quy định là tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Đánh bạc ăn thua bằng tiền là trái phép. Trong thời gian gần đây tệ nạn đánh bạc trái phép nhiều bằng hình thức như: đánh bài, số đề… diễn ra hết sức phức tạp, đang có chiều hướng gia tăng gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Bản thân bị cáo có đủ khả năng nhận thức được điều này nhưng vì thích cờ bạc và lười biếng lao động đã đưa bị cáo đi đến con đường phạm tội nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên; bị cáo mắc nhiều chứng bệnh phải điều trị thường xuyên và có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, o, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không.

Xét thấy, về ý thức và hành vi của bị cáo không phải đánh bạc chuyên nghiệp ăn thua bằng tiền mà do bị cáo nhất thời ham vui nên dẫn đến phạm tội. Về nhân thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không nghề nghiệp, là người già 72 tuổi, mắc nhiều chứng bệnh phải điều trị thường xuyên như: bệnh lý tăng huyết áp, tăng lipid máu hỗn hợp, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng tiền đình và tại phiên tòa sức khỏe bị cáo chỉ ngồi xét xử và có bác sĩ hổ trợ nên không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo trong quá trình cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước. Mặt khác, bị cáo thuộc trường hợp người già yếu như đã nêu trên nên không áp dụng thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ là phù hợp theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bản thân bị cáo thuộc người cao tuổi và không nghề nghiệp nên không áp dụng.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với tiền thu giữ trên người của Lương Văn B 560.000đồng, Lương Thị Thanh T 1.270.000đồng, Nguyễn Thị L 1.630.000đồng, Lâm Trường S 1.000.000đồng, Nguyễn Thị N 5.070.000đồng, Trần Thị H 3.010.000đồng và Đặng Thị T 630.000đồng. Cơ quan điều tra chứng minh không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đã trả lại xong nên không xem xét.

Đối với 03 bộ bài tây loại 52 lá, trong đó có 01 bộ đã qua sử dụng, 02 bộ chưa sử dụng. Xét thấy, vật chứng trên là chứng cứ, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với tiền Việt Nam 200.000đồng thu trên chiếu bạc dùng vào mục đích đánh bạc. Xét thấy, vật chứng trên là chứng cứ phạm tội của bị cáo nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với những người tham gia đánh bạc ngày 01/7/2021 với bị cáo S, không có tiền án, tiền sự, tiền dùng đánh bạc dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an xã P đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc được thua bằng tiền xong nên không xem xét.

Đối với Nguyễn Thị L tổ chức tụ điểm đánh bạc lấy tiền xâu, tuy nhiên không đủ căn cứ cấu thành tội tổ chức đánh bạc. Hiện Ủy ban nhân dân huyện T đã ra Quyết định số: 38/QĐ-XPVPHC ngày 30/7/2021 xử phạt hành chính về hành vi dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc số tiền 5.000.000đồng xong nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, o, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lâm Trường S phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lâm Trường S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lâm Trường S cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bộ bài tây loại 52 lá, trong đó có 01 bộ đã qua sử dụng, 02 bộ chưa sử dụng.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

(Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

3. Về án phí: Bị cáo Lâm Trường S là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cỡ chữ