vanban.org

Bản án 06/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 25/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HS-ST
Ngày: 25-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Phong

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lầu A Tính

Ông Vi Văn Thuy

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2022 tại bản Phiêng Vai, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2022/TLST-HS ngày 04/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Đao Văn Ph (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1975; Tại huyện M, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Ph, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đao Văn C (Đã chết) và bà Mào Thị X (đã chết); Có vợ là Pòong Thị Đ (Sinh năm 1982) và có 02 người con, con lớn nhất 16 tuổi, con nhỏ nhất 10 tuổi; Tiền sự: (Ngày 30/8/2021 bị Ủy ban nhân dân xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 03 tháng theo Quyết định số 01/QĐ-UBND); Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 20/6/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 48 tháng tù về tội Chiếm đoạt chất ma túy (Đã được xóa án tích), ngày 14/7/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng (Đã được xóa tiền sự). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/6/2022 đến ngày 06/7/2022, tạm giam từ ngày 06/7/2022 đến nay, có mặt.

2. Giàng Chở S (Tên gọi khác: Không); Sinh năm: 1976; Tại huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng Mìn L (Đã chết) và bà Ngải Lao V (Sinh năm 1934); Có chồng là Thàng Sư Ph (Sinh năm 1972) và có 04 người con, con lớn nhất 26 tuổi, con nhỏ nhất 16 tuổi; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 16/4/2013 Bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/6/2022 đến ngày 06/7/2022, tạm giam từ ngày 06/7/2022 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Giàng Chở S: Ông Pờ Go Lòong; Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đao Văn Ph: Bà Mai Thị Thanh Liêm; Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đao Văn Th; Sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Bản Ph, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 27/6/2022 Giàng Chở S đang ở nhà ở bản M, xã M, huyện M thì có một người đàn ông lạ mặt dừng ở cổng nhà S, qua trao đổi, S đã mua được của ông ta 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu S không biết, còn S cầm số Heroine vừa mua được mang vào nhà lấy một ít ra sử dụng, số còn lại S cất giấu ở trên bình gas trong nhà để có ai hỏi mua thì bán.

Đến khoảng 13 giờ ngày 27/6/2022 Đao Văn Ph điều khiển xe máy BKS 27S1-083.65 đến nhà S hỏi mua 100.000 đồng Heroine về để sử dụng. S đồng ý và nhận lấy 100.000 đồng cho vào túi áo đang mặc trên người, sau đó vào trong nhà lấy số Heroine còn lại trên bình gas mang ra bán cho Ph, Ph nhận số Heroine rồi quay xe ra về, khi vừa ra đến cổng nhà S thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số Heroine trên và 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, màu sơn đen bạc, BKS 27S1-083.65 của Đao Văn Ph và số tiền 100.000 đồng của Giàng Chở S.

Ngày 27/6/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, trích 0,11 gam làm mẫu giám định và ra quyết định trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 947/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Đao Văn Ph gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Đao Văn Ph là 0,22 gam.

Ngày 19/9/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Đao Văn Th 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, màu sơn đen bạc, số khung B9306Y001032, số máy 5B93001032, BKS 27S1-083.65 (Kèm theo chìa khóa xe).

Bản cáo trạng số: 32/CT-VKS-MN ngày 03/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Đao Văn Ph để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Truy tố Giàng Chở S để xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Đao Văn Ph từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Giàng Chở S từ 02 năm 06 tháng đến 03năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine còn lại sau khi trích gửi giám định, tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Đao Văn Ph nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, án phí và xử lý vật chứng. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 01 năm 04 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng Chở S nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, án phí và xử lý vật chứng. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng tù.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến bổ sung gì thêm. Các bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đao Văn Th tại phiên tòa trình bày: Chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, màu sơn đen bạc, BKS 27S1-083.65 là tài sản của tôi. Do công việc bận rộn nên khi mua lại chiếc xe máy này của anh Sùng A V tôi chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 27/6/2022 Đao Văn Ph có mượn chiếc xe máy của tôi nói là để đi ăn sáng, tôi hoàn toàn không biết việc Ph sử dụng xe máy để đi mua ma túy. Ngày 19/9/2022 tôi đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé trả lại chiếc xe máy trên, vì vậy về trách nhiệm dân sự tôi không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên tòa bị cáo Giàng Chở S khai vào khoảng 07 giờ ngày 27/6/2022 bị cáo mua được 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt ở nhà của bị cáo tại bản M, xã M, huyện M. Sau khi mua được Heroine, bị cáo cất giấu tại nhà của mình nhằm mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày có Đao Văn Ph đến nhà bị cáo hỏi mua Heroine, bị cáo đồng ý và đi vào trong nhà lấy số Heroine cất giấu trên bình gas ra bán cho Ph với giá 100.000 đồng. Khi Ph ra đến cổng nhà bị cáo thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo Đao Văn Ph khai: Sáng ngày 27/6/2022 bị cáo đến nhà anh Đao Văn Th ở bản Ph, xã N, huyện M mượn chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, BKS 27S1-083.65 để đi ăn sáng. Tuy nhiên, đến 13 giờ cùng ngày bị cáo mang theo 100.000 đồng điều khiển xe máy đến nhà Giàng Chở S để hỏi mua Heroine về sử dụng, S đồng ý. Sau đó bị cáo đưa cho S 100.000 đồng và S đi vào trong nhà lấy 01 gói Heroine ra đưa cho bị cáo, bị cáo nhận lấy Heroine rồi quay xe ra về, khi ra đến cổng nhà S thì bị tổ Công tác công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Giàng Chở S đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,22 gam Heroine; Bị cáo Đao Văn Ph đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,22 gam Heroine.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi của bị cáo Giàng Chở S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Hành vi của bị cáo Đao Văn Ph đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội và hình phạt được quy định tại tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Đao Văn Ph là người có nhân thân xấu, ngày 26/10/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xử phạt 48 tháng tù về tội “Chiếm đoạt chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành án xong, đã được xóa án tích. Ngày 14/7/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng (Đã được xóa tiền sự). Bị cáo có 01 tiền sự “Ngày 30/8/2021 bị Ủy ban nhân dân xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 03 tháng”, bị cáo đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã nhưng chưa được xóa tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ là ông Đao Văn C được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba ngày 18/9/1984. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Giàng Chở S là người có nhân thân xấu, ngày 16/4/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành án xong, đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân để tu trí làm ăn mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải đứng trước phiên tòa hôm nay. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt đối với các bị cáo:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đề nghị xử phạt bị cáo Đao Văn Ph từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù, đề nghị xử phạt bị cáo Giàng Chở S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, người bào chữa cho bị cáo Đao Văn Ph đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 01 năm 04 tháng tù, luật sư bào chữa cho bị cáo Giàng Chở S đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa đối với bị cáo Giàng Chở S là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận, xử phạt các bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa. Đối với Đao Văn Ph, là ngời có nhân thân rất xấu nên không chấp nhận đề nghị xử phạt của người bào chữa cho Đao Văn Ph, cần xử phạt Đao Văn Ph với mức hình phạt cao hơn để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 BLHS, các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của các bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, thuộc diện hộ nghèo (Theo giấy chứng nhận hộ nghèo số 579 ngày 01/01/2022 do UBND xã Nậm Kè cấp đối với bị cáo Đao Văn Ph và theo biên bản xác minh tài sản ngày 07/7/2022 tại bút lục số 111-111a đối với bị cáo Giàng Chở S). Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Giàng Chở S: Quá trình điều tra không xác định được người này là ai? Ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,11 gam Heroine còn lại sau khi trích gửi giám định (Đã trừ đi 0,11 gam trích gửi giám định, không hoàn lại) là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo Giàng Chở S, xét thấy đây là tiền do phạm tội mà có (S bán ma túy) nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, màu sơn đen bạc, số khung B9306Y001032, số máy 5B93001032, BKS 27S1-083.65 (Kèm theo chìa khóa xe). Quá trình điều tra làm rõ chủ sở hữu hợp pháp là anh Đao Văn Th, anh Th không biết gì về việc bị cáo Ph dùng xe máy làm phương tiện phạm tội. Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Đao Văn Th là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đao Văn Th không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Xét thấy các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Giàng Chở S.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Đao Văn Ph.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Giàng Chở S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đao Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Giàng Chở S 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 27/6/2022.

Xử phạt bị cáo Đao Văn Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 27/6/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 0,11 gam Heroine là vật chứng vụ án Giàng Chở S, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2022 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Nhé.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có của Giàng Chở S, số tiền này hiện đang tạm gửi tại số tài khoản 3949.0.1072731.00000 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Nhé.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/11/2022). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ