vanban.org

Bản án 06/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 07/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điêm a, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th phạm tội “Đánh bạc”. Bị cáo Nguyễn Văn V 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam, từ ngày 23/7/2021 đến ngày 20/8/2021) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 06/2022/HS-ST Tuyên án 07/04/2022
Phúc thẩm Bản án 101/2022/HSPT Tuyên án 09/08/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van V va dong bon danh bac - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điêm a, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ ANH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06 /2022/HS-ST
Ngày: 07 - 4 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tiến Thị

Ông Nguyễn Xuân Tào

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXHS-ST ngày 16/11/2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn V, Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 11 tháng 11 năm 1976, tại xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Đông Xuân, xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Con ông Nguyễn Văn Điều, sinh năm: 1949 và bà Nguyễn Thị Chính, sinh năm: 1951. Hiện cả cha và mẹ cư trú tại xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Đặng Thị Oanh, sinh năm 1979; con: có 03 đứa, đứa lớn tuổi nhất sinh năm 1997, đứa nhỏ tuổi nhất sinh năm 2005. Tiền án: Ngày 02/02/2015, Nguyễn Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo bản án số 13/2015/HSST, Nguyễn Văn V chưa chấp hành xong bản án (mới thi hành nộp 15.000.000 đồng tiền phạt, còn 10.000.000 đồng chưa thi hành) lại tiếp tục phạm tội nêu trên. Nhân thân: Ngày 07/02/2001, Nguyễn Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ”, theo bản án số 05/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án nêu trên và đã được xóa án tích. Tiền sự: Không. Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2021 đến ngày 20/8/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh.

2. Họ và tên: Nguyễn Đình L, Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1987, tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Nơi cư trú: thôn Trung Sơn, xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 9/12. Con ông Nguyễn Mậu Thất, sinh năm: 1958 và bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm: 1955. Hiện cả cha và mẹ cư trú tại xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Phan Thị Hằng, Sinh năm 1990. Con: có 01 đứa, sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2021 đến ngày 31/7/2021 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay.

3. Họ và tên: Nguyễn Tiến A, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 4 năm 1985, tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Nơi cư trú: thôn Đại Đồng, xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 6/12. Con ông Nguyễn Văn Trinh, Sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị Văn, Sinh năm: 1961. Hiện cả cha và mẹ cư trú tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1983. Con: có 04 đứa, đứa lớn tuổi nhất sinh năm 2007, đứa nhỏ tuổi nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 08/3/2018, Nguyễn Tiến A bị Cơ quan Công an huyện Kỳ Anh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 101/QĐ-XPVPHC, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, bị cáo đã thi hành xong quyết định xử phạt theo biên lai thu tiền số 0000849 ngày 08/3/2018. Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2021 đến ngày 20/8/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh.

4. Họ và tên: Lê Phúc T, Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980, tại xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Nơi cư trú: thôn Trường Thanh, xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 5/12. Con ông Lê Xuân Lịch, Sinh năm: 1949 và bà Nguyễn Thị Khánh, Sinh năm: 1952. Hiện cả cha và mẹ cư trú tại xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Vợ: Đặng Thị Mỹ, Sinh năm 1995. Con: có 04 đứa, đứa lớn tuổi nhất sinh năm 2012, đứa nhỏ tuổi nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2021 đến ngày 31/7/2021 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay.

5. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 02 tháng 01 năm 1994, tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Nơi cư trú: thôn Trung Sơn, xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 9/12. Con ông Nguyễn Nông, Sinh năm: 1971 và bà Nguyễn Thị Hà, Sinh năm: 1973. Hiện cả cha và mẹ cư trú tại xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: có 03 người, bị can là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị Nguyệt, Sinh năm 1996. Con: có 01 đứa, sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2021 đến ngày 31/7/2021 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay.

6. Họ và tên: Võ Xuân B, Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1976, tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Nơi cư trú: thôn Trung Sơn, xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 9/12. Con ông Võ Xuân Hồng, Sinh năm: 1952 và bà Nguyễn Thị Nga, sinh năm: 1951. Hiện cả cha và mẹ cư trú tại xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.Vợ: Nguyễn Thị Chính, Sinh năm 1982. Con: có 03 đứa, đứa lớn tuổi nhất sinh năm 2007, đứa nhỏ tuổi nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2021 đến ngày 31/7/2021 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay.

7. Họ và tên: Nguyễn Văn Th, Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1974, tại xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Nơi cư trú: thôn Đông Xuân, xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 7/10. Con ông Nguyễn Văn Điều, Sinh năm: 1949 và bà Nguyễn Thị Chính, Sinh năm: 1951. Hiện cả cha và mẹ cư trú tại xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị Hương, Sinh năm 1976. Con: có 03 đứa, đứa lớn tuổi nhất sinh năm 1996, đứa nhỏ tuổi nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh bắt tạm giam từ ngày 22/8/2021 đến ngày 07/10/2021 được thay thế biện pháp ngặn chặn cho gia đình bảo lĩnh.

(các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đặng Xuân Hùng

Sinh năm 1968, nơi cư trú: Thôn Trung Sơn, xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh,

tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lao động tự do.

- Ông Nguyễn Hồng Tuyến; Sinh năm 1989, nơi cư trú: xã Thạch Trung,

thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do

- Ông Nguyễn Tất Thể; Sinh năm 1954, nơi cư trú: TDP Tân Quý, phường

Thạch Quý, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự

do

Người làm chứng:

- Ông Đặng Đình Tuấn

Sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn Trung Sơn, xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 22/7/2021, Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Võ Xuân B, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Th đến tại nhà của ông Đặng Xuân Hùng (sinh năm 1968, trú tại thôn Trung Sơn, xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) cùng nhau uống rượu. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn V nói “ăn uống xong vô ta mần tý” (ý là rủ mọi người đánh bài được thua bằng tiền), cả nhóm đồng ý. Lúc này, Nguyễn Đình L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 38F7-7363 đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân về để đánh bạc. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Võ Xuân B, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Th đi vào khu vực phòng ở phía sau phòng khách nhà ông Hùng, rồi cùng ngồi xuống theo hình vòng tròn trên chiếc chiếu nhựa đã được trải sẵn giữa phòng và thống nhất đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh “Liêng”, đặt “tẩy” mỗi ván 10.000 đồng.

Cách thức đánh Liêng là: Một bộ bài tú lơ khơ 52 quân, chia cho mỗi người 03 quân, số bài thừa còn lại để giữa chiếu. Trước khi chia bài, mỗi người chơi đặt “tẩy” 10.000 đồng, người ngồi kế bên phải kế tiếp người chia bài sẽ đặt thêm 20.000 đồng gọi là “ẩm tẩy”. Sau đó mọi người cùng bốc bài lên xem và người ngồi bên phải kế tiếp người đã ẩm tẩy là người đánh đầu tiên rồi lần lượt đến những người ngồi kế tiếp theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Người nào tham gia đánh ván đó phải “cân tẩy” 40.000 đồng và có quyền “tố” không quá 100.000 đồng. Sau khi “tố”, những người kế tiếp muốn đánh ván đó phải “cân” toàn bộ số tiền “cân” và “tố” của người đánh trước, đồng thời có quyền “tố” thêm tiền, “tố” đến lúc nào có ít nhất hai người trở lên tham gia đánh ván đó “cân cửa” nhau (số tiền của mỗi người bỏ ra để đánh ván đó bằng nhau) thì cùng mở bài để xác định thắng thua. Trường hợp không có ai “tố” thì những người “cân” ván đó cùng mở bài để xác định thắng thua. Có bốn hình thức để xác định, lần lượt từ thấp đến cao là tính điểm (cộng ba quân bài lại với nhau và lấy số điểm ở hàng đơn vị để tính, cao nhất 09 điểm), tiếp đến là “Ảnh” (ba quân bài đều có hình người), tiếp đến là “Liêng” (ba quân bài có các số hoặc chữ liền kề) và cao nhất là “Sáp” (cả ba quân bài đều cùng số hoặc cùng chữ), nếu trong cùng một ván mà có từ hai người trở lên đều “Ảnh”, đều “Liêng” hoặc đều “Sáp” thì người có “Ảnh”, “Liêng”, “Sáp” cao hơn thì thắng (Ảnh từ thấp đến cao theo thứ tự: J, Q, K; Liêng và Sáp từ thấp đến cao theo thứ tự: số 2 đến số 10, tiếp đến là J, Q, K và A), nếu đều bằng điểm, bằng “Ảnh”, bằng “Liêng” thì so sánh chất để xác định người thắng (chất từ thấp đến cao là: Bích, Chuồn, Rô, Cơ). Trường hợp có người “tố” thêm tiền nhưng những người khác tham gia đánh ván đó bỏ bài không “cân” phần “tố” thêm đó thì người “tố” thêm tiền sau cùng là người thắng ván đó mà không cần mở bài để xác định bài cao hơn. Người thắng mỗi ván được lấy toàn bộ số tiền mà những người tham gia đánh đã đặt “tẩy”, “cân” và “tố”, đồng thời là người chia bài để đánh ván tiếp theo.

Đánh được khoảng 3 ván, thì Nguyễn Văn Đ cũng vào tham gia đánh cùng. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 23 giờ cùng ngày, thì giữa Vinh và Thành xảy ra mâu thuẫn do liên quan đến số tiền đặt “tẩy” giữa chiếu, nên Thành nghỉ đánh bỏ về nhà, còn Vinh, Lành, Anh, Bình, Thoan, Đông vẫn tiếp tục đánh bạc. Do trời đã khuya và muốn nghỉ sớm để mai còn đi làm, nên các bị cáo thống nhất nâng mức đặt “tẩy” mỗi ván lên 50.000 đồng, “cân” 100.000 đồng và “tố” không giới hạn số tiền. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, trong lúc Vinh, Lành, Anh, Thoan, Bình, Đông đang sát phạt lẫn nhau, thì bị lực lượng Công an xã Kỳ Trung phát hiện bắt quả tang. Tại chiếu bạc thu giữ số tiền 8.720.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ, thu giữ trong túi quần của Nguyễn Tiến A số tiền 4.000.000 đồng và trong ví tiền của Nguyễn Đình L số tiền 1.900.000 đồng, cùng một số đồ vật, tài liệu có liên quan.

Trong quá trình điều tra xác định số tiền 4.000.000 đồng thu giữ trong túi quần của Nguyễn Tiến A và số tiền 1.900.000 đồng thu giữ trong ví của Nguyễn Đình L, là tiền mà Anh và Lành sử dụng vào việc đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong vụ án là 14.620.000 đồng.

Các bị cáo khai nhận Nguyễn Văn V sử dụng khoảng 400.000 đồng, Nguyễn Tiến A sử dụng khoảng 4.500.000 đồng, Nguyễn Đình L sử dụng khoảng 2.400.000 đồng, Lê Phúc T sử dụng khoảng 460.000 đồng, Nguyễn Văn Đ sử dụng khoảng 450.000 đồng, Võ Xuân B sử dụng khoảng 200.000 đồng và Nguyễn Văn Th sử dụng khoảng 50.000 đồng để đánh bạc.

Về vật chứng đã thu giữ: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã thu giữ các vật chứng, gồm:

01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, đã qua sử dụng;

01 chiếc chiếu nhựa có hoa văn ca-rô nhiều màu sắc, đã qua sử dụng;

Số tiền 14.620.000 đồng tiền Việt Nam đồng;

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng, có số imei 355728073366004, điện thoại gắn số thuê bao 0832912088, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Đ;

01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, số seri 357751103777543, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Đ;

01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu xám, gắn sim số 0988809924, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Phúc T;

01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo có số Imei1: 866580036838492; số imei2: 866580036838484 điện thoại gắn số thuê bao 0357115241, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tiến A;

01 chiếc điện thoại di động Sam Sung màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn V;

01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam Sung J4 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình L;

01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 38F7-7363, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình L.

Đối với các vật chứng là những chiếc điện thoại nêu trên đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Văn Đ, Lê Phúc T, Nguyễn Tiến A, Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L. Còn xe máy biển kiểm soát 38F7-7363 trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Hồng Tuyến.

Còn lại các vật chứng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, 01 chiếu nhựa và 14.6240.000đ thu giữ tại chiếu bạc, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSKA ngày 12 – 10 – 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xét xử các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th đã phạm vào tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận vị đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ tiếp tục khẳng định nội dung vụ án như Cáo trạng đã kết luận, giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị:

- Tuyên buộc các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.

- Về hình phạt chính:

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam, từ ngày 23 – 7 – 2021 đến ngày 20 – 8 – 2021).

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 06 đến 07 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 23 – 7 – 2021 đến ngày 31 – 7 – 2021).

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến A từ 07 đến 08 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 – 7 – 2021 đến ngày 20 – 8 – 2021).

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Phúc T từ 06 đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Xuân B từ 06 đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ từ 06 đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng:

+ Áp dụng các điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 14.620.000đ (mười bốn triệu, sáu trăm hai mươi ngàn đồng) số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, đã qua sử dụng và 01 chiếc chiếu nhựa có hoa văn ca-rô nhiều màu sắc, đã qua sử dụng;

- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo tranh luận đều thừa nhận hành vi và tội phạm của mình, ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã được vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị các bị cáo còn đề nghị xem xét thêm hoàn cảnh gia đình của các bị cáo đều khó khăn.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo có mức án nhẹ để sớm trở về với cuộc sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Về thủ tục tố tụng: Các hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, nội dung, căn cứ pháp lý và trình tự thủ tục tố tụng, các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th không khiếu nại các quyết định và hành vi của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và chứng cứ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th đều thừa nhận hành vi của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, vật chứng đã thu giữ và phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 22/7/2021, tại nhà của ông Đặng Xuân Hùng (sinh năm 1968, ở thôn Trung Sơn, xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh), các đối tượng Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B, Nguyễn Văn Th đã có hành vi dùng bài tú lơ khơ loại 52 quân do Lành chuẩn bị để cùng nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh bài “Liêng” thì bị lực lượng Công an xã Kỳ Trung phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân, 01 chiếc chiếu nhựa nhiều màu sắc, số tiền 14.620.000 đồng mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc, cùng một số đồ vật, tài liệu có liên quan.

Trong vụ án này Nguyễn Văn V vừa là người khởi xướng vừa là người thực hành tích cực; Nguyễn Đình L vừa là người chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội vừa là người thực hành tích cực; Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B, Nguyễn Văn Th đồng phạm với vai trò thực hành tích cực. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Bị cáo Nguyễn Văn V, năm 2015 bị Tòa án nhân huyện Kỳ Anh xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” nhưng chưa chấp hành xong bản án lại tiếp tục phạm tội, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Nguyễn Văn V còn có nhân thân xấu, năm 2001 bị Tóa án nhân dân huyện Kỳ Anh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Chống người thi hành công vụ (đã được xóa án tích). Bị cáo Nguyễn Tiến A vào ngày 08/3/2018 bị Cơ quan Công an huyện Kỳ Anh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có một hình phạt đủ nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Tiến A quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nguyễn Tiến A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Nguyễn Đình L, Võ Xuân B, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Th là những người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra vụ án đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, Nguyễn Văn Th và Nguyễn Văn V có bố được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huy chương chiến sỹ giải phóng hạng ba, có mẹ được tặng Bằng khen trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước. Võ Xuân B có bố được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra các bị cáo còn có giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn do UBND nơi các bị cáo cư trú xác nhận. Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng xét xử xét thầy lời đề nghị mức án đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp. Tương xứng với tội phạm đã phạm phải, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng,” tuy nhiên các bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập bấp bênh, các bị cáo đều có đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn của UBND cấp xã nơi các bị cáo cư trú xác nhận. Tại phiên tòa vị Đại diện Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về xử lý vậy chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu nhựa có hoa văn ca-rô nhiều màu sắc, đã qua sử dụng và số tiền 14.620.000đ (mười bốn triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng) là các vật chứng của vụ án do đó cần tịch thu sung công quỹ nhà nước và tịch thu tiêu hủy là đúng quy định.

. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.

. Trong vụ án này, các bị cáo đánh bạc tại nhà của ông Đặng Xuân Hùng, tuy nhiên khi bắt đầu đánh bạc ông Hùng không biết sự việc, thời điểm phát hiện các bị cáo đánh bạc ông Hùng không đồng ý và đuổi các bị cáo về, nhưng các bị cáo vẫn tiếp tục đánh. Quá trình các bị cáo đánh bạc, ông Hùng không được hưởng lợi gì, nên hành vi không cấu thành tội phạm.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát: 38F7-7363 là xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Hồng Tuyến (sinh năm 1989, trú tại xã Thạch Trung, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh) mà Nguyễn Đình L sử dụng đi mua bài tú lơ khơ về sử dụng làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, khi Lành sử dụng xe anh Tuyến không biết Lành sử dụng để đi đâu làm gì, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh trả lại chiếc xe trên cho anh Tuyến là có căn cứ.

. Về quyền kháng cáo: Căn cứ quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- khoản 1, Điều 321, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn V;

- khoản 1, Điều 321, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến A và bị cáo Nguyễn Đình L;

- khoản 1, Điều 321, Điều 17, Điều 58, Điều 65, điểm i, s, khoản1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th

- Điêm a, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30–12–2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn V 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam, từ ngày 23/7/2021 đến ngày 20/8/2021)

Bị cáo Nguyễn Đình L 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, từ ngày 23/7/2021 đến ngày 31/7/2021)

Bị cáo Nguyễn Tiến A 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2021 đến ngày 20/8/2021)

Bị cáo Lê Phúc T 07 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, tình từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo Võ Xuân B 06 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn Th 06 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Phúc T cho UBND xã Kỳ Thư, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; giao bị cáo Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B cho UBND xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Giao bị cáo Nguyễn Văn Th cho UBND xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bán ản trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 14.620.000đ (mười bốn triệu, sáu trăm hai mươi ngàn đồng)

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu nhựa có hoa văn ca-rô nhiều màu sắc, đã qua sử dụng.

Đặc điểm và tình trạng của các vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20/10/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Về án phí: Buộc Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình L, Nguyễn Tiến A, Lê Phúc T, Nguyễn Văn Đ, Võ Xuân B và Nguyễn Văn Th được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ông Đặng Xuân Hùng, Ông Nguyễn Hồng Tuyến, Ông Nguyễn Tất Thể vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án./.

Cỡ chữ