- Tranh chấp gì? án hình sự — ""Tội bắt giữ người trái pháp luật" - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn C về t i: “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày: 12 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thế Vỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Hồng
Ông Nguyễn Tất Hướng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cảnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15/6, ngày 23/6, ngày 27/6, ngày 04 tháng 7 năm 2023 và ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C (tên thường gọi: B), sinh ngày: 05 tháng 4 năm 1990 tại: Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố HC, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Buôn bán; Trình đ học vấn: 06/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Th (sinh năm: 1956) và bà: Mai Thị M (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Cẩm T (sinh năm: 1984) và 01 con (sinh năm: 2022); Tiền án:
Ngày 20/8/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố CR xử phạt 05 (Năm) năm tù về t i cướp giật tài sản theo bản án số 70/2009/HSST. Ngày 10/11/2009, Tòa án nhân dân tỉnh KH ban hành bản án số 204/2009/HSPT: giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm t i, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, chưa bồi thường cho bị hại. Ngày 16/11/2022, Nguyễn Thị Cẩm Tr tạm n p (thay C) 400.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố CR).
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 10/7/2006, UBND huyện KS ban hành Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng.
Ngày 16/01/2014 bị Tòa án nhân dân huyện CL xử phạt 01 năm 06 tháng tù theo bản án số 04/2014/HSST về t i “Tr m cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng: Tái phạm nguy hiểm. C hành xong bản án ngày 03/8/2018.
Ngày 28/12/2016, bị Tòa án nhân dân quận BT, thành phố Hồ Chí minh ban hành Quyết định số 379/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt bu c.
Ngày 18/10/2018, bị Tòa án nhân dân Q9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về t i cưỡng đoạt tài sản theo bản án số 124/2018/HSST. Đã chấp hành xong bản án ngày 29/02/2020;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2022 (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C có bà: Vũ Thị A là Luật sư thu c công ty luật TNHH AVA - Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa. (có mặt).
Bị hại: Nguyễn Đức V, sinh năm: 1978
Nơi cư trú: D6/4B t 6, Ấ 4, xã QĐ, huyện BC, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Đức V có ông: Ngô Minh Đ là Luật sư thu c công ty luật TNHH TT - Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
Người làm chứng:
- Nguyễn Tùng S, Sinh năm: 1992
Nơi cư trú: Thôn TĐĐ, xã VL, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)
- Lê Quốc K, Sinh năm: 1994
Nơi cư trú: Thôn LH, xã SH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt)
- Võ Nhật T, Sinh năm: 1984
Nơi cư trú: Thôn AP1, xã TS, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)
- Đỗ Ngọc B, Sinh năm: 1981
Nơi cư trú: Thôn BG 2, xã CHT, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt)
- Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm: 1984
Nơi cư trú: Tổ dân phố HC, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt)
- Đỗ Hoàng V, sinh năm: 1986
Nơi cư trú: Thôn ĐC 2, xã NP, thị xã NH, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)
- Trần Thị D, sinh năm: 1968
Nơi cư trú: BĐ 4, DA, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
- Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1989
Nơi cư trú: Thôn TL, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt)
- Nguyễn Thị Thảo N, Sinh năm: 1998
Nơi cư trú: Thôn TĐĐ, xã VL, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)
- Nguyễn Hoàng N, sinh năm: 1994
Nơi cư trú: Thôn Văn S, xã ĐÂ 1, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Nguyễn Tuấn T, sinh năm: 1979
Nơi cư trú: 48 đường TN, phường PS, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa.
Chỗ ở: 44/12/6 đường BĐ, phường PT, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt)
- Thái Chiêu Đ, sinh năm: 1966
Nơi cư trú: 565/52 đường NT, P 7, Q 5, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Nguyễn Đăng T, sinh năm: 1999
Nơi cư trú: Thôn TL, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.
Chỗ ở: 12 đường HBT, tổ dân phố HC, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng cuối tháng 03/2022, Nguyễn Văn C và Nguyễn Đức V ký kết hợp đồng thi công công trình Homestay-café B Ng-KS với số tiền 5.000.000.000đ (Năm tỉ đồng) và công trình biệt thự nhà phố-KS với số tiền 1.250.000.000đ (M t tỉ hai trăm năm mươi triệu đồng), C là chủ đầu tư, V là bên thi công, thời gian thực hiện là 02 tháng. C đã tạm ứng cho V tổng số tiền để xây dựng là 2.315.000.000đ (Hai tỉ ba trăm mười lăm triệu đồng). Quá trình thi công xây dựng công trình bị chậm tiến đ .
Vào lúc 18 giờ 04 phút, ngày 03/6/2022 tại lán trại nằm trong công trình xây dựng V đang thi công cho C thu c tổ dân phố HC, thị trấn TH, huyện KS, C và V nói chuyện liên quan đến công trình xây dựng và có tranh cãi. C dùng tay đánh nhiều lần vào mặt, đầu của V. V bỏ ra ngoài lán trại. C yêu cầu V quay vào trong lán, khi V bước vào, C cầm ghế gỗ ném trúng tay trái của V gây thương tích.
Trong ngày 08/6/2022, vào lúc 9 giờ 50 phút, C gọi V đến lán trại nói chuyện về việc hoàn thiện hồ sơ thiết kế để xin giấy phép xây dựng. V chưa hoàn thiện hồ sơ. C cầm m t cái điều khiển quạt gió ném trúng mặt V. V chạy ra khỏi lán trại, C cầm 01 bình trà sứ giơ lên, yêu cầu V quay lại lán trại. Khi V quay lại lán trại, C đến gần, để bình trà sứ xuống bàn, dùng tay và chân đánh nhiều cái trúng đầu, mặt, lưng của V. V bỏ chạy ra khỏi lán trại, C cầm m t cái búa, yêu cầu V quay lại nhưng V không thực hiện, C đuổi theo V. C vấp ngã, bị chảy máu dưới lòng bàn chân trái nên vào trong lán ngồi. C tiếp tục yêu cầu V ngồi vào trong lán, nói các công nhân đang thi công trên công trình nghỉ làm. Lúc 9 giờ 58 phút, khi V ngồi xuống ghế, C cầm m t cái ghế nhựa màu đỏ, có lưng tựa màu trắng đánh hai cái trúng hai tay của V gây thương tích. V ngã ra sau và bỏ chạy ra ngoài lán trại, C quay lại ngồi trên ghế, yêu cầu V vào lán trại. Khi V đi vào lán trại, C đến gần dùng tay, chân đánh nhiều cái trúng mặt, lưng của V.
C nói Nguyễn Tuấn T lấy sợi dây để trói V nhưng T không lấy. C ngồi đối diện V, ngậm m t ngụm nước trong miệng phun vào mặt V. C đứng dậy giơ hai tay đấm nhiều cái trúng đầu, mặt V. Lúc 10 giờ 11 phút, C cầm ghế nhựa màu đỏ đánh trúng 02 cái vào tay V gây thương tích. V ngồi im trên ghế.
Đến khoảng 11 giờ 12 phút cùng ngày, C nói chuyện điện thoại liên quan đến thiết kế công trình, phát hiện V không có cán b kỹ thuật để hoàn thiện, kiểm tra thiết kế, C tát m t cái trúng mặt V; dùng chân đạp m t cái trúng mặt V; đấm m t cái trúng vào đầu V. C được mọi người can ngăn, V chạy khỏi lán trại. Sau đó, V quay vào lán trại theo yêu cầu của C.
Đến khoảng 11 giờ 17 phút, C lấy m t sợi dây dù màu xanh lá cây trên nóc tủ trong lán trại, trói hai cổ tay, quấn chặt nhiều vòng qua cổ (phần gáy) và hai cẳng tay V. V van xin, C kéo mạnh đầu dây còn lại làm V nằm xuống ghế xếp. C bu c đầu dây còn lại vào chân giường. C dùng tay đánh nhiều cái trúng đầu, mặt V. C nói V là “con chó này”, “súc vật”, C vừa gác chân trái lên đùi trái của V vừa nói chuyện với mọi người vấn đề liên quan đến công trình xây dựng. C sử dụng điện thoại di đ ng quay lại hình ảnh V bị trói, nằm trên ghế xếp, C gác chân lên đùi V, nói V “con chó này”, “súc vật”; gửi đoạn video trên mạng xã h i Messenger đến Nguyễn Thị Thảo N, chị Nguyễn Thị L là chị ru t của C với Nickname “LTN” và chồng của L với Nickname “M nhà hàng”. Đến khoảng 11 giờ 44 phút, C nói K cởi trói cho V, V về lán trại của mình và được các công nhân sơ cứu vết thương.
Khoảng 16 giờ 27 phút ngày 12/6/2022, không thấy công nhân làm việc, C gọi V qua lán trại. V ngồi trên ghế, C đến gần, dùng tay tát nhiều cái trúng mặt V, V dùng hai tay ôm đầu. C dùng chân đá nhiều cái vào người V, rồi cầm 01 ghế gỗ định đánh V nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó V và C tiếp tục nói chuyện, V nói với C về việc hiện đang có nhà đất tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng đang cầm cố, V muốn mượn C 300.000.000đ để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra để bán hoặc cầm cố chỗ khác lấy tiền trả cho C hoặc tiếp tục thi công công trình. C yêu cầu V bán nhà đất tại thành phố Hồ Chí Minh để trả số tiền đã tạm ứng. V sẽ bàn giao công trình cho đơn vị mà C đã lựa chọn để tiếp tục thi công hoàn thiện. Khoảng 18 giờ cùng ngày, V về lán trại của mình, chuẩn bị đồ cùng C đến thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, C và Nguyễn Tùng S, Lê Quốc K và Nguyễn Thị Thảo N chở Nguyễn Đức V trên xe ôtô biển kiểm soát: 79A-359.31 đi từ KS đến thành phố Hồ Chí Minh, trên xe C có đem theo bình xịt hơi cay. Ngày 13/6/2022, khi đến thành phố Hồ Chí Minh, C, S, K, N và V bị Phòng Cảnh sát hình sự-Công an thành phố Hồ Chí Minh mời về trụ sở Công an P5, Q5 làm việc.
Ngày 01/7/2022, Trung tâm Pháp y tỉnh Khánh Hòa có bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 293/TgT-TTPY với n i dung:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
01 sẹo kích thước trung bình cẳng tay phải. Tỷ lệ thương tật 02%
Thay đổi sắc tố da lưng trái. Tỷ lệ thương tật 01%
02 sẹo kích thước nhỏ cẳng tay phải. Tỷ lệ thương tật 02%
02 sẹo kích thước trung bình cẳng tay phải. Tỷ lệ thương tật 04%
2. Tổng tỉ lệ % tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức V là 09% (Chín phần trăm).
Ngày 21/10/2022, Trung tâm Pháp y tỉnh Khánh Hòa có Công văn số 372/TTPY-KGĐ, xác định thương tích của Nguyễn Đức V có cơ chế hình thành vết thương do ngoại lực tác đ ng, vật gây thương tích là vật tày.
Trong các ngày 03/6/2022 và 12/6/2022, không có căn cứ để xác định Nguyễn Văn C có hành vi bắt giữ Nguyễn Đức V. Không có căn cứ xác định C có hành vi cưỡng đoạt tài sản của V.
Đối với hành vi tàng trữ bình xịt hơi cay của C có dấu hiệu vi phạm hành chính. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KS đã chuyển tang vật đến Đ i Cảnh sát quản lý hành chính-Công an huyện KS đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ.
Không có căn cứ Nguyễn Đức V có hành vi lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đối với số tiền mà C đã chuyển để tạm ứng cho V.
Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 18 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về các t i: “Bắt giữ người trái pháp luật” và “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 157 và điểm d khoản 2 Điều 134 B luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát rút m t phần quyết định truy tố, đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ct t i: “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 sang các điểm a, i khoản 1 Điều 134 B luật hình sự; giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về t i: “Bắt giữ người trái pháp luật”. Do bị hại V rút yêu cầu khởi tố Nguyễn Văn C về t i “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ khoản 1 Điều 157, các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 B luật hình sự, Điều 155 và Điều 299 B luật tố tụng hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù về t i “Bắt giữ người trái pháp luật”; Đình chỉ xét xử đối với Nguyễn Văn C t i “Cố ý gây thương tích”.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS,
- Tịch thu tiêu hủy:
01 sợi dây dù màu xanh lá cây, chiều dài 4,12 m, bản r ng 2 cm, m t đầu c t thòng lọng.
01 ghế nhựa cứng màu đỏ tươi đã cũ, cao 68 cm, lưng ghế màu trắng, trên ghế phía sau có ghi chữ QUIPHUC FURNITURE và G1629
01 ghế nhựa cứng màu đỏ sẫm đã cũ, cao 82,5 cm, phía sau ghế có ghi chữ NP PLASTIC YUANFAR 1214NOGDS-104
01 ghế gỗ cao 83 cm màu vàng nhạt, mặt ghế ngồi có gắn đệm da màu nâu.
01 cục gạch bị bể dính nhiều đất, hình chữ nhật, kích thước 20cm x 11cm x 3cm.
- Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp:
01 sợi dây dù màu xanh lá cây, chiều dài 7,35 m, bản r ng 2 cm.
01 camera nhãn hiệu IMOU, màu trắng, phần mắt camera màu đen, có mã ký hiệu FCCID: 2AVYF-IPC-AXE-D, kèm theo cục sạc và dây sạc camera.
01 chiếc giường xếp có phần khung bằng kim loại, phần mặt giường là các sợi dây dù màu xanh dương được đan lại gắn vào khung giường, dài 1,76 m, r ng 73 cm, cao 32 cm.
01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh đã qua sử dụng, Imei: 350888745163059.
01 điện thoại di đ ng OPPO RENO 4 PRO đã qua sử dụng màu xanh đen, số Imei 1: 861728043898075, số Imei 2: 861728043898067.
01 bình trà sứ màu trắng, viền vàng, trên bình có in hình con chim và chữ TH GREEN TECH kính tặng, có quai cầm màu vàng, kích thước cao 18 cm x đường kính 09 cm.
01 cây búa dài 38,5 cm, đầu búa bằng kim loại hình chữ nhật kích thước dài 12,5 cm x r ng 4,5 cm x dày 4 cm, tay cầm bằng gỗ hình trụ có kích thước dài 38,5 cm, đường kính 4,5 cm.
01 con dao dài 42 cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 30 cm x r ng 6,8 cm, lưỡi dao bị mẻ nhiều chỗ, trên đầu lưỡi dao có 01 lỗ tròn đường kính 1 cm, lưỡi dao đã bị rỉ sét. Cán dao bằng gỗ dài 12 cm, hình tròn, đường kính 3 cm, trên cán dao có 02 vòng kim loại màu đen đã cũ.
Về phần dân sự: Bị hại Nguyễn Đức V không yêu cầu nên không xét.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i Nước c ng hòa xã h i chủ nghĩa Việt Nam, bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị hại Nguyễn Đức V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn C và Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo phạm t i có m t phần lỗi của bị hại, phạm t i trong lúc nóng giận, là lao đ ng chính, nuôi con còn nhỏ. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật và đã nhận ra lỗi lầm của mình, kính mong H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và trả tự do cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sửa đổi bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện KS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Ngày 14/6/2023, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Đức V là luật sư Ngô Minh Đ có đơn xin xem xét giải quyết có yêu cầu: “Trường hợp không có căn cứ để hoãn phiên tòa nêu trên thì tôi kiến nghị quý Tòa án lưu tâm xem xét giải quyết vụ án hình sự nêu trên đúng quy định của pháp luật và dành quyền kháng cáo cho ông Nguyễn Đức V đối với toàn b bản án (dự kiến xét xử vào ngày 15/6/2023) trong vụ án hình sự nêu trên, căn cứ quy định pháp luật”. Xét yêu cầu của ông Ngô Minh Đ là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật nên ghi nhận.
Ngày 01/7/2023, bị hại Nguyễn Đức V có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do: Ở xa và công việc gia đình. Xét thấy, yêu cầu của bị hại V là hoàn toàn tự nguyện và sự vắng mặt của bị hại V không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại V theo Điều 292 B luật tố tụng hình sự.
Ngày 06/7/2023, bị hại Nguyễn Đức V có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với t i “Cố ý gây thương tích”. Xét thấy yêu cầu của bị hại V là hoàn toàn tự nguyện nên H i đồng xét xử căn cứ vào Điều 155 và Điều 299 B luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử đối với t i: “Cố ý gây thương tích”.
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C thừa nhận: Vào khoảng 11 giờ 17 phút ngày 08/6/2022, do bức xúc vì bị hại đã không thực hiện đúng cam kết, chậm thi công công trình Homestay-café B N-KS và công trình biệt thự nhà phố-KS nên C lấy m t sợi dây dù màu xanh lá cây trên nóc tủ trong lán trại, trói hai cổ tay, quấn vòng qua cổ (phần gáy) và hai cẳng tay V. V van xin, C kéo mạnh đầu dây còn lại làm V nằm xuống ghế xếp. C bu c đầu dây còn lại vào chân giường.
Lời khai nhận của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại V, người làm chứng Lê Quốc K, vật chứng của vụ án, phù hợp với kết luận điều tra và n i dung bản cáo trạng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tự do thân thể, quyền tự do đi lại của người khác, làm ảnh hưởng tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã h i tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, cáo trạng số: 04/CT-VKS, ngày 18 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện kS, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về t i: “Bắt giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo có tiền án về t i: “Cướp giật tài sản”, bị Tòa án nhân dân tỉnh KH xử phạt 05 (Năm) năm tù theo bản án số số 204/2009/HSPT, ngày 10/11/2009. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm t i, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, chưa bồi thường cho bị hại nên bị cáo chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm t i do cố ý nên thu c trường hợp tái phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 B luật hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù và xử phạt hành chính nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t thời gian để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả được bị hại V gứi đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có ông n i là Nguyễn Văn L1 là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự.
Tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam đến nay, bị cáo cũng đã thấy được lỗi lầm của mình nên H i đồng xét xử xét thấy không cần thiết tiếp tục tạm giam mà xử phạt bị cáo bằng thời gian tạm giam và tuyên bố trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa theo Điều 328 B luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Đức V không yêu cầu nên không xét.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ bao gồm:
01 (M t) sợi dây dù màu xanh lá cây, chiều dài 7,35m, bản r ng 02 cm;
01 (M t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng, Imei: 350888745163059;
01 (M t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO RENO 4 PRO đã qua sử dụng màu xanh đen số Imei 1: 861728043898075; số Imei 2: 861728043898067
01 camera nhãn hiệu IMOU màu trắng, phần mắt camera màu đen, có mã ký hiệu FCCID: 2AVYF-IPC-AXE-D, kèm theo cục sạc và dây sạc camera;
01 bình trà sứ màu trắng, viền vàng, trên bình có in hình con chim và chữ TH GREENTECH kính tặng, có quai cầm màu vàng, kích thước cao 18cm x đường kính 09cm;
01 giường xếp có phần khung bằng kim loại, phần mặt giường là các sợi dây dù màu xanh dương được đan lại gắn vào khung giường, dài 1,76m, r ng 73cm, cao 32cm;
01 cây búa dài 38,5cm, đầu búa bằng kim loại hình chữ nhật, kích thước dài 12,5cm x r ng 4,5cm, tay cầm bằng gỗ hình trụ có kích thước dài 38,5cm, đường kính 4,5cm;
01 con dao dài 42cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 30cm x r ng 6,8cm, lưỡi dao bị mẻ nhiều chỗ, trên đầu lưỡi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01 cm, lưỡi dao đã bị rỉ sét. Cán dao bằng gỗ dài 12cm, hình tròn, đường kính 03cm, trên cán dao có 02 vòng kim loại màu đen đã cũ;
Đây là tài sản thu c sở hữu hợp pháp của Nguyễn Văn Chất nên trả lại cho Nguyễn Văn Chất.
Còn lại các vật chứng bao gồm:
01 (M t) sợi dây dù màu xanh lá cây, chiều dài 4,12m, bản r ng 02 cm, m t đầu c t thòng lọng;
01 ghế nhựa cứng màu đỏ tươi đã cũ, cao 68cm, lưng ghế màu trắng, trên ghế phía sau có ghi chữ QUIPHUC FUNITURE và G1629;
01 ghế nhựa cứng màu đỏ sẫm đã cũ, cao 82,5cm, phía sau ghế có ghi chữ PLASTIC YUANFAR G1214NOGDS-104;
01 ghế gỗ cao 83cm màu vàng nhạt, mặt ghế ngồi có gắn đệm da màu nâu;
01 cục gạch bị bể dính nhiều đất, hình chữ nhật, kích thước 20cm x 11cm x 3cm.
Các vật chứng trên là công cụ, phương tiện phạm t i và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Chất phải n p 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; Bị hại Nguyễn Đức Vinh phải n p 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm (Theo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án);
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 157; các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 B luật hình sự; Điều 292; khoản 2 Điều 155; khoản 2 Điều 299 và Điều 328 của B luật tố tụng hình sự; các điểm a, b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Đình chỉ xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn C về t i: “Cố ý gây thương tích”
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 01 (Một) năm 28 (Hai mươi tám) ngày tù về t i “Bắt giữ người trái pháp luật”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/6/2022).
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn C, nếu bị cáo không bị tạm giam về m t t i phạm khác.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Đức V không yêu cầu nên không xét.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 B luật tố tụng hình sự;
* Tịch thu tiêu hủy:
01 (M t) sợi dây dù màu xanh lá cây, chiều dài 4,12m, bản r ng 02 cm, m t đầu c t thòng lọng.
01 (M t) ghế nhựa cứng màu đỏ tươi đã cũ, cao 68cm, lưng ghế màu trắng, trên ghế phía sau có ghi chữ QUIPHUC FUNITURE và G1629;
01 (M t) ghế nhựa cứng màu đỏ sẫm đã cũ, cao 82,5cm, phía sau ghế có ghi chữ PLASTIC YUANFAR G1214NOGDS-104;
01 (M t) ghế gỗ cao 83cm màu vàng nhạt, mặt ghế ngồi có gắn đệm da màu nâu;
01 (M t) cục gạch bị bể dính nhiều đất, hình chữ nhật, kích thước 20cm x 11cm x 3cm.
* Trả lại cho Nguyễn Văn C:
01 (M t) sợi dây dù màu xanh lá cây, chiều dài 7,35m, bản r ng 02 cm;
01 (M t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng, Imei: 350888745163059;
01 (M t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO RENO 4 PRO đã qua sử dụng màu xanh đen số Imei 1: 861728043898075; số Imei 2: 861728043898067
01 (M t) camera nhãn hiệu IMOU màu trắng, phần mắt camera màu đen, có mã ký hiệu FCCID: 2AVYF-IPC-AXE-D, kèm theo cục sạc và dây sạc camera;
01 (M t) bình trà sứ màu trắng, viền vàng, trên bình có in hình con chim và chữ TH GREENTECH kính tặng, có quai cầm màu vàng, kích thước cao 18cm x đường kính 09cm;
01 (M t) giường xếp có phần khung bằng kim loại, phần mặt giường là các sợi dây dù màu xanh dương được đan lại gắn vào khung giường, dài 1,76m, r ng 73cm, cao 32cm;
01 (M t) cây búa dài 38,5cm, đầu búa bằng kim loại hình chữ nhật, kích thước dài 12,5cm x r ng 4,5cm, tay cầm bằng gỗ hình trụ có kích thước dài 38,5cm, đường kính 4,5cm;
01 (M t) con dao dài 42cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 30cm x r ng 6,8cm, lưỡi dao bị mẻ nhiều chỗ, trên đầu lưỡi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01 cm, lưỡi dao đã bị rỉ sét. Cán dao bằng gỗ dài 12cm, hình tròn, đường kính 03cm, trên cán dao có 02 vòng kim loại màu đen đã cũ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/02/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện KS và Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải n p 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị hại Nguyễn Đức V phải n p 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại Nguyễn Đức V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Công an huyện KS; - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - Bị cáo; - Đương sự; - Luật sư; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thế Vỹ |