vanban.org

Bản án 06/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: * Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Lò Văn V 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (28/6/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn V - Lò Văn L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 251 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 06/2022/HS-ST
Ngày: 25/10/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nông Trung Kiên

2. Ông Phan Thanh Bắc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên toà: Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn V, Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1976, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Đội 11, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Ph và con bà: Lò Thị D; Vợ: Lường Thị Ọ; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/6/2022, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lò Văn L, Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1977, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Đội 11, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Ng (đã chết) và con bà: Lò Thị P; Vợ: Vì Thị Th; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/6/2022, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn V, Lò Văn L đều là đối tượng nghiện chất ma túy và có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước, do hám lợi và nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiện chất ma túy của bản thân nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/6/2022, Lò Văn V một mình đi bộ từ nhà ở đội 11, xã Th, huyện Đ đến khu vực đầu đội 11, xã Th với mục đích tìm mua Heroine về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến nơi, V gặp và hỏi mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ với giá 400.000 đồng. Mua bán xong, V đem về nhà chia số Heroine vừa mua được thành 02 gói nhỏ, cất giấu 01 gói Heroine trong túi áo đang treo cạnh giường ngủ, còn 01 gói Heroine V cất giấu ở đầu giường ngủ rồi sinh hoạt bình thường. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đang ở nhà thì có Lò Văn L đến nhà hỏi mua Heroine, V đồng ý và đi vào khu vực giường ngủ lấy gói Heroine, dùng tay cấu một ít Heroine rồi quay lại bán cho L với giá 100.000 đồng. Đến 11 giờ 45 phút cùng ngày, ngay khi V vừa cất số tiền 100.000 đồng bán ma túy cho L vào túi áo ngực bên phải đang mặc, còn L đang cầm 01 cục Heroine ở tay phải thì bị tổ công tác Công an xã Th phối hợp với Đồn Biên phòng Thanh Luông - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên vào nhà kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của Lò Văn L đang cầm 01 cục Heroine (không được gói bằng gì) có khối lượng 0,13 (không phẩy mười ba) gam; thu giữ của Lò Văn V 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, sau đó V tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu vàng, mở bên trong có 0,38 (không phẩy ba mươi tám) gam Heroine tại đầu giường ngủ của V.

Hồi 16 giờ 05 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn V. Qua khám xét đã thu giữ: Trong túi áo đang treo cạnh giường ngủ của V 01 gói Heroine được gói bằng 02 lớp, bên ngoài là nilon màu trắng tiếp đến là giấy bạc màu vàng, khối lượng 0,06 (không phẩy không sáu) gam Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 28/6/2022 đã xác định: Khối lượng toàn bộ số cục màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng là 0,57 gam, gửi toàn bộ giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 960/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn V gồm: 0,44 gam; Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của V gửi giám định là ma túy loại Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định 0,32 gam;

Tại Bản kết luận giám định số: 961/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn L gồm: 0,13 gam; Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của L gửi giám định là ma túy loại Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định 0,08 gam;

Tại Bản kết luận giám định số: 963/KL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) có số mã hiệu: GK 10033689 là tiền thật.

Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 15/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên: Hoàn lại mẫu sau khi giám định là: 0,4 gam và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) có số mã hiệu: GK 10033689.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 10/10/2022 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ gồm: 0,4 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Bản cáo trạng số: 219/CT-VKSĐB ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn V về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lò Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn V với mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn L với mức hình phạt từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,4 gam Heroine còn lại sau khi giám định là vật chứng của vụ án; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng là tiền do bị cáo Lò Văn V phạm tội mà có.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Các bị cáo đồng ý và không tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên; Thực hiện lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa V và L khai nhận ngày 28/6/2022 tại nhà của mình ở đội 11, xã Th, huyện Đ, V có hành vi bán trái phép 0,13 gam Heroine cho L thu được 100.000 đồng. Đồng thời Lò Văn V có hành vi cất giấu trái phép trong nhà 0,44 gam Heroine với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Tổng khối lượng Heroine mà V phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,57 gam. Hồi 14 giờ 05 phút ngày 28/6/2022 tại đội 11, xã Th, huyện Đ Lò Văn L đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,13 gam Heroine với mục đích để sử dụng. Nguồn gốc số Heroine mà V có được là do trước đó V mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) tại đội 11, xã Th, huyện Đ với số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên của bị cáo Lò Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi trên của bị cáo Lò Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Lò Văn V và Lò Văn L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn V về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lò Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo V để sử dụng, bán lẻ kiếm lời và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo L để sử dụng là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự. Nguyên nhân dẫn đến bị cáo V phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nghiện ma túy từ năm 2020, muốn có ma túy để sử dụng và bán lẻ nên đã mua bán trái phép chất ma túy để hưởng lợi và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng; còn bị cáo L nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nghiện ma túy từ năm 2020, vì muốn có ma túy để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lò Văn V với mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lò Văn L với mức hình phạt từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” và tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với các bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu hủy 0,32 gam Heroine còn lại sau khi giám định là vật chứng thu giữ của bị cáo Lò Văn V và 0,08 gam Heroine còn lại sau khi giám định là vật chứng thu giữ của bị cáo Lò Văn L; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng là tiền do bị cáo Lò Văn V phạm tội mà có.

[6] Về các vấn đề khác: Lò Văn V khai mua ma túy của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) tại đội 11, xã Th, huyện Đ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người này.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

* Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Lò Văn V 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (28/6/2022).

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Lò Văn L 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (28/6/2022).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 0,32 gam (Không phẩy ba mươi hai gam) Heroine còn lại sau khi giám định là vật chứng còn lại thu giữ của bị cáo Lò Văn V.

+ Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam (Không phẩy không tám gam) Heroine còn lại sau khi giám định là vật chứng còn lại thu giữ của bị cáo Lò Văn L.

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) là tiền do bị cáo Lò Văn V phạm tội mà có.

Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2022 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo Lò Văn V và Lò Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/10/2022).

Cỡ chữ