- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HS-ST Ngày: 12-01-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
[
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ngô Nguyễn Minh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu
2. Ông Bùi Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh A (tên gọi khác: T A), sinh năm 1999, tại Bình Dương. Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1979 và bà Võ Thị Thu C, sinh năm 1981; bị cáo có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo, bị bắt tạm giam từ ngày 07/4/2021, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Thu C, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Danh Thị Tú M(vắng mặt).
2. Ông Cao Gia H (vắng mặt).
3. Ông Phạm Duy L (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh A là đối tượng nghiện ma túy. Từ cuối năm 2020 đến ngày bị bắt (ngày 07/4/2021) A mua ma túy phân thành từng liều nhỏ bán cho các con nghiện kiếm lời.
Trưa ngày 07/4/2021, Nguyễn Thanh A đến thành phố T, tỉnh Bình Dương mua 700.000 đồng ma túy của đối tượng tên X (không rõ lai lịch) đem về nhà tại ấp H, xã L, huyện D phân chia thành từng liều nhỏ bán cho các con nghiện. Đến tối cùng ngày, Danh Thị Tú M, sinh năm 1995, trú tại ấp Đ, xã L, huyện D gọi điện cho A hỏi mua ma túy, A đồng ý và hẹn gặp M tại đoạn đường ĐT748 trước quán cà phê 379 thuộc ấp H, xã L, huyện D để giao ma túy. Do bận việc nên M nhờ Cao Gia H, sinh năm 2006, trú tại ấp K, xã L, huyện D đến địa điểm đã hẹn với A lấy ma túy cho M. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, A điều khiển xe mô tô biển số 94D1-272.24 đem 01 tép ma túy đến địa điểm trên giao cho H. Khi A chuẩn bị đưa ma túy cho H thì bị lực lượng Công an huyện Dầu Tiếng kết hợp cùng Công an xã L bắt quả tang. Tạm giữ tang vật gồm:
- 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng hai đầu hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (A khai là ma túy đá);
- 01 điện thoại di động hiệu Mastel màu đen, số Imei 1: 355314109416137, số Imei 2: 355314109718136 kèm theo sim Viettel có số seri: 8984048000026244483;
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 94D1-272.24, số khung: RLCS5C6K0GY274864, số máy 5C6K274863;
Khám xét nơi ở của A tại ấp H, xã L tạm giữ:
- 02 gói nilon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- 01 đoạn ống hút nhựa màu cam trắng hai đầu hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế;
- 01 cái kéo bằng kim loại dài 17 cm;
- 01 quẹt ga màu xanh;
Cao Gia Huy đã giao nộp số tiền 400.000 đồng dùng để mua ma túy.
Qua quá trình điều tra xác định, ngoài lần bán ma túy cho Danh Thị Tú M bị bắt quả tang, Nguyễn Thanh A còn bán ma túy cho các con nghiện như sau:
- A bán ma túy cho Danh Thị Tú M khoảng 5 lần tại địa bàn xã L, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng.
- A bán ma túy cho Phạm Duy L (B), sinh năm 2005, trú tại ấp P, xã L, D khoảng 10 lần tại địa bàn xã L, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.
- A bán ma túy cho Phạm Gia E, sinh năm 2004, trú tại ấp H, xã L, huyện D khoảng 05 lần tại địa bàn xã L, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.
Ngoài ra A còn bán ma túy cho một số đối tượng không rõ nhân thân lai lịch.
Tại bản kết luận giám định số 172/MT-PC09 ngày 16/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: 0,2365 gam (M1), 0,1345 gam (M2-1), 0,0217 gam (M2-2), 0,0389 gam (M2-3), loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKSDT-HS ngày 04/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo A từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
Đối với hành vi của Cao Gia h, Danh Thị Tú M, Phạm Duy L mua ma túy của A sử dụng, Công an xã L, huyện D đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền và cảnh cáo. Đối với Phạm Gia E cơ quan Công an chưa làm việc được nên chưa đủ căn cứ xử phạt.
Đối với hành vi của đối tượng tên X bán ma túy cho A không xác định được lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Quá trình điều tra A khai sử dụng ma túy cùng với Lê Phước Y, sinh năm 1987, trú tại ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương nhưng qua xác minh ông Y đã bỏ địa A đi đâu không rõ, chưa làm việc được với ông Y nên chưa đủ căn cứ xử phạt.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với vật chứng 04 gói ma túy Methamphetamine mẫu M1, M2-1, M2-2, M2-3 hoàn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 quẹt ga, 01 cái kéo xét thấy không có giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Mastel màu đen, số Imei 1: 355314109416137, số Imei 2: 355314109718136 kèm theo sim Viettel có số seri: 8984048000026244483 là dụng cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
+ Đối với vật chứng xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 94D1-272.24, số khung: RLCS5C6K0GY274864, số máy 5C6K274863 quá trình điều tra xác định do bà Võ Thị Thu C, sinh năm 1981, HKTT ấp H, xã L, huyện D (mẹ ruột A) là chủ sở hữu hợp pháp, bà C không biết A mượn để sử dụng vào việc bán ma túy nên đề nghị trả lại cho bà C;
+ Đối với vật chứng số tiền 400.000 đồng sử dụng mua ma túy nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
Tại phiên tòa, bị cáo A thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện cải tạo thành người công dân tốt.
Ý kiến của người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan bà Võ Thị Thu C: Bà C cho bị cáo mượn xe, không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên bà C xin được nhận lại xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng và Điều tra viên, Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ có trong hồ sơ đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể: Ngày 07/4/2021, bị cáo đến thành phố T mua 700.000 đồng ma túy của đối tượng tên X (không rõ lai lịch) đem về nhà bị cáo tại ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương phân thành các liều nhỏ để bán cho các con nghiện. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, trong lúc bị cáo đang thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho con nghiện thì bị lực lượng Công an huyện Dầu Tiếng phối hợp cùng Công an xã L bắt quả tang. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận ngoài lần mua bán ma trái phép chất ma túy bị bắt, bị cáo còn nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy cho các con nghiện tại địa bàn xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Như vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma tuý đã và đang gây tác hại xấu cho sức khoẻ của người sử dụng; làm ảnh hưởng đến nòi giống, làm suy kiệt về kinh tế, chính ma tuý là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác và làm lan truyền nhiều loại bệnh nguy hiểm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi để biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Xét hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Dầu Tiếng nên cần phải xử lý thật nghiêm hành vi của bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năng, hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn trẻ.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để bị cáo có điều kiện cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời có điều kiện cai nghiện ma túy.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý về vật chứng:
Đối với vật chứng 04 gói ma túy Methamphetamine mẫu M1, M2-1, M2-2, M2-3 hoàn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 quẹt ga, 01 cái kéo đây là chất cầm lưu hành và các vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Mastel màu đen, số Imei 1: 355314109416137, số Imei 2: 355314109718136 kèm theo sim Viettel có số seri: 8984048000026244483 là dụng cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 94D1-272.24, số khung: RLCS5C6K0GY274864, số máy 5C6K274863 quá trình điều tra xác định do bà Võ Thị Thu C, sinh năm 1981, HKTT ấp H, xã L, huyện D (mẹ ruột A) là chủ sở hữu hợp pháp, bà C không biết A sử dụng vào việc bán ma túy nên cần trả lại cho bà C;
Đối với số tiền 400.000 đồng sử dụng mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
Các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi của Cao Gia H, Danh Thị Tú M, Phạm Duy L mua ma túy của A sử dụng, Công an xã L, huyện D đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền và cảnh cáo. Đối với Phạm Gia X cơ quan Công an chưa làm việc được nên chưa đủ căn cứ xử phạt.
Đối với hành vi của đối tượng tên X bán ma túy cho A không xác định được lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Quá trình điều tra A khai sử dụng ma túy cùng với Lê Phước Y, sinh năm 1987, trú tại ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương nhưng qua xác minh ông Y đã bỏ địa phương đi đâu không rõ, chưa làm việc được với ông Y nên chưa đủ căn cứ xử phạt.
Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2021.
2. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 172/PC09 (là mẫu vật gửi giam định trong quyết định trưng cầu giám định số 89/QĐ ngày 08 thnasg 4 năm 2021 của CO.CSĐT – Công an huyện Dầu Tiếng). Có chữ ký của ông Lê Phước Dũng – Trưởng Công an xã L, cán bộ niêm phong Lê Minh Trưởng, cán bộ giám định Trần Hoàng Huy, người chứng kiến Nguyễn Thanh A và hình dấu đỏ của Phòng KTHS – Công an tỉnh Bình Dương. Khối lượng mẫu vật niêm phong: M1=0,1978gam, M2-1=0,1138gam, M2-2=0,0121 gam, M2-3 = 0,0258 gam.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim Viettel có số seri: 8984048000026244483; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế; 01 (một) cái kéo bằng kim loại dài 17cm; 01 (một) quẹt gas màu xanh
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Mastel màu đen, số Imei 1: 355314109416137, số Imei 2: 355314109718136.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với số tiền 400.000 đồng sử dụng mua ma túy;
Trả lại cho bà Võ Thị Thu C xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 94D1-272.24, số khung: RLCS5C6K0GY274864, số máy: 5C6K274863 (tình trạng tại thời điểm giao nhận: đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu bên phải).
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thanh A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 12/01/2022)./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Công an H. Dầu Tiếng; - Chi cục THADS H. Dầu Tiếng; - PV 27-Công an tỉnh Bình Dương; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Nguyễn Minh Sơn |