vanban.org

Bản án 06/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm Tội mua bán trái phép chất ma tuý.

Bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm Tội mua bán trái phép chất ma tuý và Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 25/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm Tội mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HS-ST
Ngày: 24 – 02 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hoài Ẩn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trương

2. Ông Đặng Thành Sơn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Toà án nhân dân huyện Châu Thành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2021/HS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2022/QĐ-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022.

- Đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Thị T, sinh ngày 21/8/1993; tại huyện Kế S, tỉnh Sóc Trăng: Tên gọi khác: Không: Nơi cư trú: Số 68B/10A, đường 3/2, phường Hưng L, quận Ninh K, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Ấp Phú X, thị trấn Mái D, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970 và bà Lê Thị T, sinh năm 1972; Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Quốc T (G). Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt để tạm giữ ngày 25/9/2021 đến nay; Bị cáo có mặt tại tòa.

2. Bị cáo Nguyễn Hoàng P, sinh năm: 1998; tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang: Tên gọi khác: Không: Nơi cư trú: Ấp Phú T, thị trấn Mái D, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 và bà Trần Thị Cẩm G, sinh năm 1978; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/9/2021, đến ngày 25/9/2021 bị khởi tố chuyển tạm giam đến nay; Bị cáo có mặt tại tòa.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Hoàng Xn, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Long T, xã Long Đ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: Ấp Phú T, thị trấn Mái D, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

2. Nguyễn Quốc T (G), sinh năm 1985 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp Đông T, xã Đông T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Chỗ ở hiện nay: Ấp Phú X, thị trấn Mái D, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

3. Kiều Bé C, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 136/8A Phạm Ngũ L, quận Ninh K, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ ngày 19 tháng 9 năm 2021 Tổ tuần tra phòng chống dịch Covid -19 thị trấn Mái D tuần tra đến khu vực ấp Phú X, thị trấn Mái D thì phát hiện Nguyễn Hoàng P sinh năm 1998; đăng ký thường trú: ấp Phú T, thị trấn Mái D, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang điều khiển xe mô tô BKS: 65B1- 472.76 lưu thông trên đường vi phạm quy định về phòng chống dịch Covid -19 nên Tổ tuần tra yêu cầu Phúc dừng xe để kiểm tra, khi P dừng xe lại phát hiện P có biểu hiện ghi vấn Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Tổ tuần tra phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy – Kinh tế thuộc Công an huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tiến hành kiểm tra phát hiện trên người P có 01 gói băng keo màu đỏ, kiểm tra bên trong gói băng keo phát hiện 01 bịch nylon màu trắng kích thước (2,8x1,0) cm bên trong bịch nylon có chứa tinh thể không màu. Quá trình kiểm tra P lực lượng Công an phát hiện tại vị trí P ngồi có 01 bịch băng keo màu đỏ kiểm tra bên trong có 03 gói băng keo màu đỏ, bên trong 03 gói băng keo đều có bịch nylon, bên trong bịch nylon có chứa tinh thể không màu, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tạm giữ vật chứng và các tang vật có liên quan.

Trước đó, ngày 16/9/2021 Nguyễn Thị T mua 04 bịch ma túy của người thanh niên (chưa xác định được tên địa chỉ) số tiền 700.000đ mang về nhà, Trinh lấy một bịch ma túy và sử dụng một ít và hàn kín ma túy còn lại trong bịch; đến khoảng 19 giờ ngày 19/9/2021 có người tên L (không rõ tên, địa chỉ) điện thoại hỏi Trinh mua ma túy với số tiền 600.000 đồng, T đồng ý bán và thỏa thuận khi L đến cầu Cái C thì điện thoại cho T giao ma túy. Sau khi khi thỏa thuận bán ma ma túy cho L, T sử dụng băng keo màu đỏ dán bên ngoài các bịch ma túy, dùng băng keo màu đỏ dán 03 bịch ma túy lại với nhau thành một gói ma túy để bán cho L. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Hoàng P đang ở và làm tại trại hòm Sáu T thuộc ấp P T, thị trấn Mái D, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên P điện thoại đến Nguyễn Thị T hỏi mua ma túy (mua thiếu) số tiền 200.000 đồng để sử dụng, T không đồng ý bán thiếu mà kêu P đến gặp T tại nhà ở khu dân cư vượt lũ thị trấn Mái D thuộc ấp Phú X, thị trấn Mái D, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang lấy ma túy đi giao bán dùm T thì Trinh cho ma túy để P sử dụng, P đồng ý và mang theo dụng cụ để sử dụng ma túy để vào bên trong 01 khẩu trang y tế màu xanh, cất giấu vào túi quần bên trái, P điều khiển xe mô tô BKS: 65B1 - 472.76 chạy đến nhà gặp T, tại đây T giao cho P 01 gói ma túy được quấn băng keo màu đỏ bên trong có 03 bịch ma túy được dán băng keo và dặn dò P khi nào T điện thoại thì P mang gói ma túy đến cầu Cái C giao cho người mua, P cất giấu gói ma túy này vào bên trong túi quần bên trái P đang mặc; T tiếp tục giao cho P 01 (một) bịch ma túy mà T đã sử dụng còn lại được dán băng keo màu đỏ để trả công cho P đi giao ma túy cho T, bịch ma túy này P cất giấu vào túi áo P đang mặc. Sau khi giao nhận ma túy của T xong, P điều khiển xe đến khu vực cầu Ngã B thuộc ấp Phú X A, thị trấn Mái D tìm người bạn tên K (không rõ họ tên, địa chỉ) để cùng sử dụng ma túy nhưng không gặp được K thì T điện thoại kêu P mang ma túy đi giao cho người mua nên P điều khiển xe đi về hướng cầu Cái C, khi xe chạy đến khu vực ngã tư Mái D thuộc ấp Phú X, thị trấn Mái D, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thì bị kiểm tra bắt quả tang.

Căn cứ kết luận giám định số: 78/KLGĐ-PC09(MT) ngày 23/9/2021 của Phòng ký thuật hình sự - Công an tỉnh Hậu Giang kết luận:

1. Phong bì ký hiệu “1”: Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 03 (ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,38474 gam, loại Methamphetamine.

2. Phong bì ký hiệu “2”: Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một ) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,15315 gam, loại Methamphetamine.

3. Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong phong bì ký hiệu “1” và “2” có tổng khối lượng 0,53789 gam.

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS-HCT, ngày 30/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Hoàng P về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Hoàng P. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 03 năm đến 04 năm tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo P từ 03 năm đến 04 năm tù. Ngoài ra còn đề xuất xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Quá trình điều tra, truy tố các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật có liên quan.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Nguyễn Hoàng P đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã quy kết. Lời thừa nhận của các bị cáo là thống nhất nhau như các lời khai trong quá trình điều tra, truy tố. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng đã thu giữ được, đồng thời phù hợp với kết luận giám định về chất ma tuý, định lượng ma tuý và các chứng cứ khác đã thu thập được. Từ đó cho thấy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ.

Bị cáo Nguyễn Thị T thừa nhận có nhờ bị cáo Nguyễn Hoàng P giao ma túy, cụ thể bị cáo T đưa bị cáo P 01 gói ma túy gồm 03 bịch ma túy được quấn băng keo đỏ bên ngoài để P giao cho người thanh niên tên L ở khu vực Cái C thuộc tỉnh Sóc Trăng, mục đích bán lấy tiền tiêu xài (nhưng không biết rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể) và cho P 01 bịch ma túy được quấn băng keo màu đỏ bên ngoài để P sử dụng coi như công P giao ma túy cho bị cáo. Bị cáo P cũng thừa nhận có giao ma túy cho bị cáo T và tàng trữ ma túy để sử dụng. Khi giám định, cơ quan giám định đã kết luận “Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong phong bì ký hiệu “1” và “2” có tổng khối lượng 0,53789 gam”. Do đó, hành vi của bị cáo T và bị cáo P đã cấu thành Tội mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo P cấu thành thêm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo T là người mua bán ma túy chính trong vụ án. Bị cáo P chỉ vì muốn có ma túy để sử dụng mà giao ma túy thay cho bị cáo Trinh cho người thanh niên tên L (không rõ họ, tên và địa chỉ) với khối lượng 0,38474 gam, loại Methamphetamine. Do đó, bị cáo P với vai trò là đồng phạm của bị cáo T, do mục đích ngay từ ban đầu của bị cáo P là muốn có ma túy để sử dụng, còn bị cáo T là vì muốn thu lợi bất chính từ việc bán ma túy. Do đó bị cáo T phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo P.

Đối với bị cáo P thì ngoài số ma túy bị cáo giao cho người mua thay bị cáo T, bị cáo P còn tàng trữ khối lượng ma túy là 0,15315 gam, loại Methamphetamine để sử dụng cá nhân. Bị cáo biết hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn làm. Do đó, ngoài tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm, bị cáo còn phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma tuý là chất gây nghiện, chất hướng thần rất nguy hiểm cho người sử dụng. Người sử dụng ma tuý sẽ dẫn đến nghiện mà không từ bỏ được, ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, gây ảo giác và các vấn đề khác nguy hiểm về tính mạng cho người sử dụng. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo dẫn đến một số đối tượng ngày càng đi sâu vào con đường nghiện ma tuý rất nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều biết và nhận thức rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý là pháp luật nghiêm cấm, là nguy hiểm cho xã hội nhưng chỉ vì lợi ích vật chất, vì phục vụ cho nhu cầu nghiện hút mà các bị cáo bất chấp tất cả rồi lao vào con đường phạm tội.

Với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Qúa trình giải quyết vụ án, bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đối với bị cáo T trong quá trình điều tra còn quanh co chưa thành khẩn nhưng tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với người tên L (chưa xác định được cụ thể họ tên, địa chỉ) điện thoại liên hệ với T để mua ma túy nhưng chưa điều tra được. Do đó đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ chất ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao gói được để trong 01 phong bì được niêm phong số 78/2021 ngày 23/9/2021. Một nắp nhựa màu đỏ trên nắp có khoét hai lỗ, một lỗ được gắn với một tẩu thủy tinh dùng để sử dụng ma túy. Một lưỡi lam nhãn hiệu BIC đã qua sử dụng. Một khẩu trang y tế màu xanh đã qua sử dụng. Ba quẹt gas bằng nhựa trong có hai cái bị bể phần đầu phía trên. Sáu đoạn băng keo màu đỏ. Ba đoạn ống nhựa gồm: một đoạn màu trắng trong sọc trắng có một đầu được cắt nhọn, một đoạn màu trắng tím và một đoạn màu vàng sọc trắng. Một bộ dụng cụ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy. Một dụng cụ tiêm tự chế dùng để đốt ma túy. Một cây kéo bằng kim loại dùng để cắt ma túy. Một cuộn băng keo màu đỏ bên trong có chữ Deer Brand dùng để quấn các bịch ma túy.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen, biển số đăng ký: 65B1-472.76, qua điều tra xác định do anh Lê Hoàng X là chủ sở hữu, thường ngày X đều để xe và chìa khóa sẵn trên xe ở nơi làm việc, X và bị cáo P làm việc chung với nhau, bị cáo P thường mượn xe của X. Ngày 19/9/2021 anh X không biết việc P sử dụng xe của anh để mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó nên trả lại xe cho anh X theo quy định.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, số IMEI1: 867132031836755 của bị cáo P dùng liên lạc, trao đổi việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với điện thoại di động bị cáo T dùng liên lạc trao đổi việc mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo T khai để ở nhà và bị mất. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm Tội mua bán trái phép chất ma tuý.

Bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm Tội mua bán trái phép chất ma tuý và Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 25/9/2021.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 (Một) năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 02 (Hai) năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt là 03 (Ba) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/9/2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ chất ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao gói được để trong 01 phong bì được niêm phong số 78/2021 ngày 23/9/2021; 01 nắp nhựa màu đỏ trên nắp có khoét hai lỗ, một lỗ được gắn với một tẩu thủy tinh dùng để sử dụng ma túy; 01lưỡi lam nhãn hiệu BIC đã qua sử dụng; 01 khẩu trang y tế màu xanh đã qua sử dụng; 03 quẹt gas bằng nhựa trong có hai cái bị bể phần đầu phía trên; 06 đoạn băng keo màu đỏ; 03 đoạn ống nhựa gồm: một đoạn màu trắng trong sọc trắng có một đầu được cắt nhọn, một đoạn màu trắng tím và một đoạn màu vàng sọc trắng; 01 bộ dụng cụ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy; 01 dụng cụ tiêm tự chế dùng để đốt ma túy; 01 cây kéo bằng kim loại dùng để cắt ma túy; 01 cuộn băng keo màu đỏ bên trong có chữ Deer Brand dùng để quấn các bịch ma túy.

- Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen, biển số đăng ký: 65B1-472.76, cho anh Lê Hoàng X là chủ sở hữu do anh X không biết việc P sử dụng xe của anh để mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, số IMEI1: 867132031836755 của bị cáo P.

Theo phiếu nhập kho số PNK 2022/09 ngày 07/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ