- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hoàng Thị L - ông Hồ Tiến D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị L đối với bị đơn ông Hồ Tiến D về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HNGĐST Ngày: 20-01-2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 264/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 26/11/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1987, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hồ Tiến D, sinh năm 1981, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Đường N, tổ X, khu phố Y, phường TH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 21/5/2021 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Hoàng Thị L trình bày:
Bà L và ông Hồ Tiến D chung sống với nhau từ năm 2004, có tổ chức cưới hỏi. Đến năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2009, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quá trình chung sống với bà L, ông D đối xử với bà L quá tệ bạc, không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho vợ trong cuộc sống hằng ngày cũng như những lúc sinh đẻ, ốm đau, bệnh tật. Nghiêm trọng nhất là ông D rất nhiều lần ngoại tình, còn quay lại video cảnh quan hệ tình dục của ông D với người phụ nữ khác, sau đó còn quay ngược lại nghi ngờ con chung không phải là con của ông D. Ngoài ra ông D không lo kinh tế gia đình, mà còn cờ bạc dẫn đến nợ nần, thường xuyên uống rượu say xỉn về nhà đánh đập vợ con. Vì thương con nên bà L đã cố gắng nhẫn nhịn, chịu đựng quá lâu nhưng cho đến nay, bà L không còn chịu đựng được nữa. Nhận thấy mâu thuẫn hôn nhân đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Tiến D.
Về con chung: Bà L và ông D có 02 con chung là cháu Hồ Tiến H, sinh ngày 02/01/2007 và Hồ Hoàng Khánh V, sinh ngày 17/11/2012. Bà L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên hoà giải đoàn tụ ngày 04/6/2021, bị đơn ông Hồ Tiến D trình bày: Thống nhất như toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn bà L về thời điểm sống chung, đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn. Ông D thừa nhận toàn bộ nội dung về nguyên nhân mâu thuẫn như lời trình bày của bà L, tất cả mọi mâu thuẫn là do lỗi của ông D, ông D thừa nhận nhưng sai lầm của mình. Tuy nhiên ông D cho rằng mình còn yêu thương vợ nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L. Sau khi trình bày ý kiến, bị đơn ông D không ký tên vào biên bản hoà giải đoàn tụ và tự ý bỏ ra về.
Sau đó, ông D đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng và triệu tập tham gia tố tụng, tham gia phiên họp về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà. Tuy nhiên, ông D không chấp hành theo nội dung triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hoàng Thị L vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông D vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn không có yêu cầu thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ nội dung khởi kiện.
Ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng là nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị L khởi kiện bị đơn ông Hồ Tiến D yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn ông Hồ Tiến D có địa chỉ cư trú tại phường TH, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Bà Hoàng Thị L và ông Hồ Tiến D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, có tổ chức cưới hỏi. Đến năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2009, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo lời trình bày của bà L là do trong quá trình chung sống, ông D đối xử với bà L quá tệ bạc, không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho vợ trong cuộc sống hằng ngày cũng như những lúc sinh đẻ, ốm đau, bệnh tật. Nghiêm trọng nhất là ông D rất nhiều lần ngoại tình với người phụ nữ khác và nghi ngờ con chung không phải là con của mình. Ngoài ra ông D không lo kinh tế gia đình, mà còn chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần, thường xuyên uống rượu say xỉn về nhà đánh đập vợ con. Bà L đã cố gắng nhẫn nhịn, chịu đựng quá lâu nhưng cho đến nay, bà L không còn chịu đựng được nữa. Nhận thấy mâu thuẫn hôn nhân đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Tiến D. Tại phiên hoà giải đoàn tụ, ông D cũng thừa nhận những mâu thuẫn như lời trình bày của bà L và thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do lỗi của ông D. Tuy nhiên, do còn yêu thương vợ, mong muốn được đoàn tụ nên ông D không đồng ý ly hôn.
Sau đó Tòa án đã tiếp tục triệu tập hợp lệ bị đơn ông D nhiều lần để tham gia phiên họp về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà cũng như thông báo kết quả phiên họp cho ông D theo quy định. Nhưng ông D cố tình vắng mặt, không lý do. Điều này cho thấy rằng ông D đã không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân và cuộc sống vợ chồng với bà L, không có thiện chí hòa giải đoàn tụ.
Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Hoàng Thị L và ông Hồ Tiến D đã đến mức trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài đã lâu nhưng vợ chồng vẫn không thể khắc phục được, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc, lo lắng cho nhau khiến mục đích hôn nhân không đạt được, mối quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Hoàng Thị L được ly hôn với ông Hồ Tiến D.
Về con chung: 02 Cháu Hồ Tiến H, sinh ngày 02/01/2007 và Hồ Hoàng Khánh V, sinh ngày 17/11/2012 đều đã trên 07 tuổi. Theo lời khai đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, cả 02 cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Nên cần áp dụng quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung. Bà L không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị L đối với bị đơn ông Hồ Tiến D về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị L được ly hôn với ông Hồ Tiến D.
- Về con chung: Giao 02 cháu Hồ Tiến H, sinh ngày 02/01/2007 và Hồ Hoàng Khánh V, sinh ngày 17/11/2012 cho bà Hoàng Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà L không yêu cầu ông Hồ Tiến D cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Hồ Tiến D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích hợp pháp của con chung dưới 18 tuổi, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Nguyên đơn bà Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0054600 ngày 27/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Pháp luật.
4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - UBND xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Nhung |