vanban.org

Bản án 06/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 16/02/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích P được ly hôn với anh C. Về án phí: Chị Trần Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo biên lai số 0001295 ngày 16/3/2020 của Cục Thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Bích P - Anh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16-02-2022
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ngoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Hiếu Nhường.

Bà Nguyễn Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp “Xinly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích P, sinh năm 1993 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh C, sinh năm 1981 (vắng mặt);

Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan);

Địa chỉ: Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 09/3/2020, bản tự khai ngày 09/3/2020 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Bích P trình bày:

Chị và anh C kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang; theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 06/9/2018. Sau khi kết hôn, chị sang Đài Loan sống chung với chồng chị. Trong thời gian sống chung, anh chị đã bất đồng quan điểm, không hiểu ý nhau; thêm vào đó mẹ chồng chị khó tính, chị không hiểu tiếng Đài Loan nhiều nên mẹ chồng chị không vừa ý, buộc chị và chồng chị không được liên lạc với nhau, chồng chị cũng đồng ý nên khoảng 06 tháng trước khi nộp đơn xin ly hôn, anh chị không liên lạc với nhau. Ngày 03/8/2019, chị quyết định trở về Việt Nam, từ đó đến nay anh chị không liên lạc với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh C.

- Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng vắng mặt trong suốt quá trình hòa giải, xét xử; cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị P, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Trần Thị Bích P và anh C đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P; về con chung, tài sản chung, nợ chung: chị P trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét; chị P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Trần Thị Bích P khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh C nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Bích P có đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn với anh C. Anh C có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan); hiện đang cư trú tại Đài Loan. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc ủy thác tư pháp, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 474 và điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nhưng anh C không nộp bản tự khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mà không có lý do, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Trần Thị Bích P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị P theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích P, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chị Trần Thị Bích P và anh C kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang; theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 06/9/2018 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của chị P, sau khi kết hôn, chị sang Đài Loan sống chung với chồng chị. Quá trình sống chung, chị và anh C đã bất đồng quan điểm sống; thêm vào đó, do bất đồng ngôn ngữ với mẹ chồng cùng với việc mẹ chồng khó tính, giữa chị và mẹ chồng đã xảy ra mâu thuẫn. Ngày 03/8/2019, chị trở về Việt Nam, từ đó đến nay anh chị không liên lạc với nhau.

Nhận thấy, thời gian vợ chồng chị Trần Thị Bích P và anh C sống chung không dài, sau đó lại sống tách biệt (anh C sống ở Đài Loan, chị Trần Thị Bích P sống ở Việt Nam) khiến cho việc vun đắp tình cảm vợ chồng gặp nhiều khó khăn; hơn nữa từ sau khi chị P về Việt Nam, anh C cũng không liên lạc với chị P, thời gian ly thân kéo dài càng khiến cho tình cảm vợ chồng phai nhạt. Mục đích cơ bản của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững; nhưng chị P và anh C thường xuyên sống xa nhau, lại không liên lạc khiến cho việc xây dựng gia đình không đạt được, càng không tạo được sự bền vững trong quan hệ vợ chồng. Thêm vào đó, từ khi chị P nộp đơn xin ly hôn đến nay, mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng anh C vẫn vắng mặt không lý do, không tham gia các phiên hòa giải, xét xử, cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị P. Từ đó cho thấy anh C không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị P. Cả hai đã không còn tình cảm với nhau, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho chị P và anh C.

Từ những nhận định trên, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Trần Thị Bích P và anh C không còn khả năng hàn gắn, hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích P đối với anh C.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị P trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị Trần Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Chị Trần Thị Bích P phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng được khấu trừ vào các khoản tạm ứng mà chị đã nộp nên xem như chị đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 477, khoản 1 và 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích P được ly hôn với anh C.

2. Về án phí: Chị Trần Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo biên lai số 0001295 ngày 16/3/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như chị đã nộp xong án phí sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng: Chị Trần Thị Bích P phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng được khấu trừ vào các khoản tạm ứng mà chị P đã nộp nên xem như chị P đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Bích P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Anh C cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ