vanban.org

Bản án 06/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Vân A

Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đào Vân A và anh Đặng Ngọc T Nuôi con: Giao con Đặng Quang L, sinh ngày 28/11/2015 cho chị Đào Vân A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đặng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LHST Đào Vân A - Đặng Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Vân A
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST
Ngày 24-01-2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Sơn Thị Nhân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Hóa

Bà Hoàng Thị Chính

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.

Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Vân A; ĐKHTT: Tổ 7, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ 13, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị đơn: Anh Đặng Ngọc T; ĐKHKTT: Thôn H, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú cuối cùng: Tổ 13, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Vân A và anh Đặng Ngọc T có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tại UBND xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 21/3/2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 15/2015, quyển số 01/2011). Năm 2015, sau khi kết hôn đến vợ chồng chuyển về tổ 13 phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, sinh sống cho đến tháng 11/2017 anh Đặng Ngọc T bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì, anh Đặng Ngọc T đi đâu, làm gì chị Đào Vân A không biết. Quá trình chung sống vợ chồng chị Đào Vân A và anh Đặng Ngọc T nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống. Ngày 05/5/2021, chị Đào Vân A có đơn yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân quận K tuyên bố anh Đặng Ngọc T bị mất tích. Ngày 23 tháng 11 năm 2021, Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng ra Quyết định số: 04/2021/QĐST-TBMT, tuyên bố anh Đặng Ngọc T bị mất tích. Chị Đào Vân A đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn với anh Đặng Ngọc T.

Về con chung: Chị Đào Vân A và anh Đặng Ngọc T có 01 con chung là Đặng Quang L, sinh ngày 28/11/2015, hiện cháu đang ở với mẹ, chị Đào Vân A đề nghị được nuôi con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Đặng Ngọc T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Đào Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng

- Về thẩm quyền: Nơi cư trú tại cuối cùng của anh Đặng Ngọc T tại phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Tòa án nhân dân quận K đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với anh Đặng Ngọc T theo quy định của pháp luật, tuy nhiên đến nay anh Đặng Ngọc T không có mặt tại phiên tòa, chị Đào Vân A có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

Quan hệ hôn nhân: Chị Đào Vân A và anh Đặng Ngọc T có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tại UBND xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 21/3/2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 15/2015, quyển số 01/2011). Vì vậy, hôn nhân giữa chị Đào Vân A và anh Đặng Ngọc T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình chung sống, vợ chồng nỷ sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân tính tình không hợp, bất đồng quan đểm sống, đến tháng 11 năm 2017, anh Đặng Ngọc T bỏ nhà đi đâu, làm gì, gia đình và địa phương không ai biết, như vậy trong quá trình chung sống mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đề nghị của chị Đào Vân A xin ly anh Đặng gọc T là phù hợp pháp luật.

Nuôi con chung: Chị Đào Vân A và anh Đặng Ngọc T có 01 con chung là Đặng Quang L, sinh ngày 28/11/2015, hiện cháu đang ở với mẹ, chị Đào Vân A đề nghị được nuôi con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp được chấp nhận; Giao con Đặng Quang L cho chị Đào Vân A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đào Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đặng Ngọc T, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Tài sản chung: Chị Đào Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị Đào Vân A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 điểm a khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Vân A

Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đào Vân A và anh Đặng Ngọc T

Nuôi con: Giao con Đặng Quang L, sinh ngày 28/11/2015 cho chị Đào Vân A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đặng Ngọc T, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Tài sản chung: Chị Đào Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị Đào Vân A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003601 ngày 16-12-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng, Chị Đào Vân A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07, 07a và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ