- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Đỗ Thị Ngọc T xin ly hôn với anh Huỳnh P."
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị Ngọc T về việc xin ly hôn với anh Huỳnh P.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST Ngày 08 - 02 - 2022 “V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Chí Nguyện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Hùng
Ông Trần Văn Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Trong ngày 08 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 184/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Ngọc T, sinh năm 1998.
Cư trú tại: Ấp A, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Anh Huỳnh P, sinh năm 1997.
Cư trú tại: Ấp A, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Về hôn nhân: Chị T trình bày, chị và anh P tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không được hạnh phúc, hiện cả hai đã ly thân nhau từ năm 2017 cho đến nay nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị T xác định có 01 con chung tên Huỳnh Gia B, sinh ngày 10/8/2017, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu B. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đặt ra yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Huỳnh P, Tòa án đã cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho anh P từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử, nhưng anh P khước từ nhận văn bản tố tụng của Tòa án. Tòa án đã thực hiện cấp tống đạt hợp lệ quyết định xét xử, nhưng anh P vẫn vắng mặt không rõ lý do và cũng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn yêu cầu của chị Đỗ Thị Ngọc T về việc xin ly hôn với anh Huỳnh P thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Anh P là bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại ấp 3, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã cấp tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập theo quy định cho các đương sự, anh P là bị đơn vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ 2 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị T và anh P tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không được hạnh phúc, hiện cả hai đã ly thân nhau từ năm 2017 cho đến nay nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh P.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh P từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử, nhưng anh P vắng mặt không rõ lý do và cũng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, cho thấy anh P chưa quyết tâm để tìm giải pháp hàn gắn tình cảm của vợ chồng. Nhận thấy, theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên, Hội đồng xét xử tiến hành xem xét theo yêu cầu của chị T và yêu cầu của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị T xác định có 01 con chung tên Huỳnh Gia B, sinh ngày 10/8/2017, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu B. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đặt ra yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Xét thấy việc yêu cầu của chị T về việc nuôi con chung là cháu Huỳnh Gia B sinh năm 2017 sau ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị T trực tiếp nuôi con không có yêu cầu anh P cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình chị T nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 1 Điều 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị Ngọc T về việc xin ly hôn với anh Huỳnh P.
Về con chung: Giao cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 10/8/2017, hiện cháu B do chị T nuôi dưỡng.
Anh P không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chị T không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm Hôn nhân và gia đình chị T nộp 300.000đ. Vào ngày 03 tháng 11 năm 2021, Chị T đã dự nộp 300.000đ theo biên lai số 0014561 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu sung quỹ nhà nước.
Chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THA dân sự h.Thới Bình; - UBND xã T, H.Thới Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ;án văn. | Diệp Chí Nguyện |