- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Th và Th1"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Phước Th1.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST Ngày: 17-3-2022 “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Hai;
2. Ông Nguyễn Phát Triển;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 17 tháng 3 năm 2022 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 253/2021/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 12 năm 2021, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số nhà 347A/TTB, ấp B, xã T, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ liên hệ: Số nhà 209, ấp K, xã H, huyện Tân H, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phước Th1, sinh năm 1987.
Địa chỉ : Số nhà 347A/TTB, ấp B, xã T, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.
( Chị Th có mặt; anh Th1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/10/2021 và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Th trình ày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh Nguyễn Phước Th1 được người thân mai mối tìm hiểu và tổ chức lễ cưới vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/3/2015. Thời gian đầu, cuộc sống hôn nhân rất hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng ắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Th1 quen iết với người phụ nữ khác, tham gia cờ ạc, đôi khi hành hung chị Th một cách vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị Th đã tìm mọi giải pháp để hạn chế những ất đồng nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Đến tháng 02 năm 2021, chị Th đưa 02 con về nhà cha mẹ chị ở Long An tìm việc làm và sinh sống cho đến nay. Chị Th nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Th yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phước Th1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 26/9/2010 và Nguyễn Phước L, sinh ngày 23/01/2017, hiện 02 con chung đang sống với chị Th. Khi ly hôn, chị Th yêu cầu được nuôi 02 con chung Nguyễn Phước T và Nguyễn Phước L, không yêu cầu anh Th1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn Nguyễn Phước Th1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng và không có văn ản trình ày ý kiến gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Th yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Nguyễn Phước Th1, do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn anh Nguyễn Phước Th1 có địa chỉ cư trú tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với ị đơn là anh Nguyễn Phước Th1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai nhưng anh Nguyễn Phước Th1 vẫn không có văn ản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Nguyễn Phước Th1 theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Sau thời gian được người thân mai mối tìm hiểu, chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Phước Th1 tổ chức lễ cưới vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/3/2015 theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ảo vệ quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh Th1 đã diễn ra từ lâu, nguyên nhân do ất đồng quan điểm sống trong nhiều vấn đề của cuộc sống vợ chồng. Anh Th1 quen iết với người phụ nữ khác, tham gia cờ ạc, đôi khi hành hung chị Th một cách vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Khoảng thời gian vợ chồng không sống chung từ tháng 02/2021 cho đến nay, chị Th và anh Th1 không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông áo cho anh Th1 về nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Th, các thông áo và triệu tập để hòa giải, xét xử vụ án nhưng anh Th1 vẫn vắng mặt và cũng không có ất kỳ ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của chị Th, chứng tỏ anh Th1 không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị Th và anh Th1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Th.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Phước Th1 có 02 con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 26/9/2010 và Nguyễn Phước L, sinh ngày 23/01/2017, hiện 02 con chung đang sống với chị Th. Hội đồng xét xử nhận thấy chị Th và anh Th1 đều có đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, cháu Phước Tvà cháu Phước L đã có cuộc sống ổn định với chị Th và các cháu được chăm sóc tốt, phát triển về mọi mặt. Vì vậy, giao 02 con chung cho chị Th tiếp tục trực tiếp nuôi để 02 cháu có cuộc sống ổn định và phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các cháu là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Phước T là muốn sống chung với mẹ là chị Th.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu anh Th1 cấp dưỡng nuôi con chung Phước T và Phước L nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Th xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Phước Th1.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 26/9/2010 và Nguyễn Phước L, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Nguyễn Thị Th tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, hiện 02 con chung đang sống chung với chị Th.
Chị Nguyễn Thị Th cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Phước Th1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu anh Th1 cấp dưỡng nuôi con chung Phước T và Phước L nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Th xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí và tạm ứng án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005910 ngày 23/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (chị Th đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo ản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/3/2022). Đối với ị đơn không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày ản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Lai Vung; - Chi cục THADS huyện Lai Vung; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Văn Hai Nguyễn Phát Triển | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Phượng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phượng |