- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị VTH được ly hôn anh NVH.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN TỈNH NA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 01 - 2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN, TỈNH NA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hải và bà Nguyễn Thị Yến.
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Trà My, Thư ký Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HN t nh Nghệ n: Bà Nguyễn Thị Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 88/2021/ TLST - HNGĐ, ngày 13 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị VTH; Sinh năm: 1993. Địa chỉ: Xóm 2, xã HT, huyện HN, tỉnh NA. Có mặt
Bị đơn: Anh NVH; Sinh năm: 1988. Địa chỉ: Xóm 2, xã HT, huyện HN, tỉnh NA. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 17 tháng 6 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị VTH trình bày: Chị và anh NVH kết hôn với nhau ngày 16/5/2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện NL, tỉnh NA. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống của hai người không hợp nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2020. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được yêu cầu được ly hôn với anh H để giải phóng cho nhau.Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là NTMT, sinh ngày 26/01/2012; NVC, sinh ngày 01/01/2015 và NBK, sinh ngày 27/02/2019. Nguyện vọng của chị sau ly hôn là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu NTMT và cháu NBK. Nhường quyền nuôi cháu NVC cho anh H. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh NVH trình bày: Thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn giữa anh và chị VTH đúng như chị H trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị cũng có xẩy ra một số mâu thuẫn, vợ anh ngoại tình. Tuy nhiên vì con cái nên anh không đồng ý ly hôn với chị H, muốn vợ chồng quay lại để đoàn tụ cuộc sống gia đình. Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 03 con chung đúng như chị H trình bày. Nếu ly hôn, nguyện vọng của anh là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu NVC và cháu NBK. Nhường quyền nuôi cháu NTMT cho chị H. Về tài sản chung và các khoản nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị VTH giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh NVH vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị VTH ly hôn với anh NVH. Về con chung: giao hai cháu NTMT và cháu NBK cho chị H nuôi dưỡng, giao cháu NVC cho anh H nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị H và anh H vì không bên nào có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét. Về án phí: Chị VTH phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”. Bị đơn anh NVH có hộ khẩu thường trú tại xóm 2, xã HT, huyện HN, tỉnh NA. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do hai bên không hòa giải được. Vì vậy Tòa án nhân dân huyện HN đã đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đã tống đạt trực tiếp cho anh H, tuy nhiên anh H không hợp tác và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA tiến hành xét xử vắng mặt anh H là đúng quy định pháp luật.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị VTH và anh NVH đăng ký kết hôn ngày 16/5/2011tại UBND xã N, huyện NL, tỉnh NA là không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình. Đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên xẩy ra cãi vã.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị VTH cương quyết ly hôn vì nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh NVH mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái. Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng không đạt kết quả, chị H vẫn cương quyết ly hôn .
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị VTH được ly hôn anh NVH.
. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị VTH và anh NVH đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng nuôi được nuôi con của anh chị là chính đáng. Hiện tại cháu NTMT, cháu NBK đang ở với mẹ, cháu NVC đang ở với bố. Cuộc sống sinh hoạt và học tập của các cháu đều đang ổn định và được đảm bảo. Cháu NBK dưới 36 tháng tuổi nên cần được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu NTMT có đơn trình bày nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung tên là NTMT, sinh ngày 26/01/2012 và NBK, sinh ngày 27/02/2019 cho chị H; giao con chung là NVC, sinh ngày 01/01/2015 cho anh NVH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh H không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H và anh H.
. Về tài sản chung và khoản nợ: Chị VTH và anh NVH không yêu cầu nên Tòa không xem xét.
. Về án phí: Chị VTH phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị VTH được ly hôn anh NVH.
2. Về con chung: Giao con chung là NTMT, sinh ngày 26/01/2012 và NBK, sinh ngày 27/02/2019 cho chị VTH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao con chung là NVC, sinh ngày 01/01/2015 cho anh NVH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị VTH và anh NVH.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con thì các bên đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị VTH phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp tại cơ quan Thi hành án Dân sự huyện HN theo biên lai thu tiền số 0005033 ngày 06 tháng 8 năm 2021. Chị Hương đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh NA trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện HN; - THADS huyện HN - Đương sự; - Nơi đăng ký kết hôn; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phan Hương |